Chùa Bửu Minh Gia Lai - Phật giáo và Thời đại

Thứ Ba, 16 tháng 3, 2010

Tản mạn Cà Phê Phố Núi .


Trong tâm thức của mỗi người đều có một quê hương riêng. Có người coi trái đất là quê hương mình, có người coi Tổ Quốc mình là quê hương mình, có nguời coi Tỉnh mình là quê hương mình, có người coi nơi mình chôn nhau rốn là quê hương mình. Tâm tôi không to rộng, nên tôi chỉ coi phố núi Pleiku là quê hương mình. Quê hương với bao ân tình kỷ niệm, ngồi bên tách cà phê, nhắm mắt lại là từng con người, dãy phố, con đường ở Pleiku hiện ra.
Nhắc đến cà phê, chúng ta vô cùng cảm ơn, nhớ ơn Đức Phật, hai ngàn sáu trăm năm trước Ngài đã không cấm đệ tử mình uống cà phê, Ngài chỉ cấm uống rượu và các thức uống gây say khác. Bởi Thầy mình không cấm, nên ngày hôm nay các Tăng sĩ phật giáo ngồi nhâm nhi ly cà phê công khai, chứ nếu Phật cấm thì không công khai được đâu, chỉ tìm cách uống lén thôi.
Diện tích trồng cà phê ở Pleiku - Gia Lai chỉ thua Đắc Lắc - Buôn Mê Thuột, và có lẽ cà phê ở Pleiku không ngon bằng cà phê Ban Mê Thuột, có thể do chất đất, có thể do cách sao tẩm, chế biến chưa đạt đến đỉnh cao. Cả nước khi nhắc đến cà phê là liên tưởng đến Ban Mê Thuột, ít khi liên tưởng đến Pleiku. Bởi các doanh nghiệp trồng cà phê, chế biến cà phê Pleiku – Gia Lai chưa có dịp cùng với các vị lãnh đạo, văn nghệ sĩ, dân ghiền cà phê tỉnh nhà ngồi lại với nhau, cùng uống cà phê, cùng trao đổi, cùng thổi hồn, thổi nghệ thuật, thổi triết lý nhân sinh vào cho từng giọt cà phê, để cà phê trở thành một thứ Đạo, như Trà Đạo, tại sao ta không biến thú vui tao nhã là uống cà phê, thành cà phê Đạo.
Ừ cũng vui lắm chứ, cũng thú vị lắm chứ !
Ngày xưa khi đất nước chưa công nghiệp hoá, chưa hiện đại hoá, con người tiêu thụ ít hơn, có nhiều thời gian hơn ta cùng với bạn lành ngồi bên tách cà phê phin, trong một buổi sáng sương mù lãng đãng trong một quán cà phê vỉa hè, vừa uống vừa nghe nhạc Trịnh với chiếc máy đĩa to đùng, nhìn mọi người lướt qua nhẹ nhàng, không vội vã không hấp tấp, do vậy ta cũng bình tĩnh hơn để nhắp ly cà phê, tương tác mà. Đức Phật dạy: ” Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không. Cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt”. Thiên hạ mà vội vội vàng vàng thì ta cũng vội vội vàng vàng theo, chế một ly cà phê tốc hành uống vội rồi đi, đi như bị ma đuổi, đi mà không biết mình đi về đâu.
Bên tách cà phê buổi sáng, sương mù giăng giăng khép nẻo, cùng với tiếng vó ngựa lốc cốc trên mặt đường, đường trồng nhiều cây thông, ta nghe lòng thanh thản, thư giản. Nhìn từng giọt cà phê rơi ! rơi ! nhè nhẹ rơi ! Ta thấy như giọt thời gian rơi vào hư vô, nhắc ta phải làm gì, biết mình phải làm sao trong cuộc đời này. Mình từ đâu đến và chết rồi sẽ đi về đâu. Không có cái gì bỗng dưng mà có, không có cái gì bỗng dưng mà không, tất cả là nhân duyên trùng điệp. Giọt cà phê này từ đâu mà có, uống vô bụng rồi thì đi về đâu. Có thiệt là uống vô bụng rồi thì mất hẳn ? Khi buồn ta uống cà phê để suy gẫm, suy gẫm vì sao đời mình lao đao lận đận, vì sao cuộc tình nào đến với mình rồi cũng vỗ cánh bay, vì sao mình cứ chối bỏ quê hương, vì sao tháng năm biền biệt chưa về thăm cha già mẹ yếu, em thơ….. Khi vui ta uống cà phê và ta nhận diện ra rằng không có gì hạnh phúc bằng giây phút hiện tại, ta an lạc với giây phút này, bởi ta không biết trân quý giây phút này, thì biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao.
Tôi không ghiền cà phê, nhưng tôi có uống, bởi có thói quen suy tưởng nên ghi lại đây vài dòng tâm tư tản mạn, để tặng mình và tặng thân hữu gần xa.

Pleiku , đầu xuân Canh Dần.
Thích Giác Tâm

Thứ Ba, 26 tháng 1, 2010

Vì sao Tu Sĩ Phật Giáo cần có Tri Thức Khoa Học?

Câu hỏi sẽ không cần đặt ra nếu người tu sĩ mặc định và hành trì một cách tuyệt đối tư tưởng: “Giải thoát là không còn trụ nơi hình tướng”; mà khoa học thì lại trụ bám vào hình tướng, vì đối tượng của nó là vật chất, - tức hình tướng. Người tu sĩ chỉ cần “hành thiền” hay “niệm Phật nhất tâm bất loạn.”
Thật ra, yêu cầu tri thức khoa học đối với người tu sĩ Phật giáo nói chung có thể chứng minh được, căn cứ trên hai thực tế: Thực tế khách quan và sự nghiệp tu hành - hoằng hóa (tự giác giác tha).
I. Thực tế khách quan
1. Hiện thực pháp giới tính
Trong vũ trụ vạn hữu, không một hiện tượng nào không liên hệ với tất cả các hiện tượng khác. Đạo Phật không tách rời khỏi thế giới còn lại. Phật pháp không tách rời thế gian pháp, “Nhất thiết thế gian pháp vô phi Phật pháp.”
Chân lý này từng được nêu rõ trong kinh Phật. Kinh Hoa Nghiêm có giáo nghĩa “tương tức, tương nhập”. Tương tức có nghĩa là cái này là cái kia. Tương nhập có nghĩa là cái này nằm trong cái kia.
2. Quan niệm hiện đại về một Trí quyển (noosphere) bao quanh địa cầu, đó là “quyển” do tâm thức và trí tuệ (do tâm trí) của loài người tạo nên.
Tác động của con người vào tự nhiên đã làm biến đổi sâu sắc bộ mặt của hành tinh và các tầng quyển bao quanh nó, đến mức độ không còn nơi nào không mang dấu ấn hoạt động con người.
3. Khoa học và ứng dụng của nó là Kỹ thuật tác động trên con người:
- Tích cực: cho phép hiểu thế giới hiện tượng ngày càng sâu sắc và chính xác.
- Tiêu cưc: Môi trường sống bị tổn hại nghiêm trọng; chiến tranh, tội ác khi áp dụng khoa học - kỹ thuật vào mục đích xấu.
A.Einstein phát biểu rằng: “Tại sao cái nền khoa học ứng dụng nguy nga lộng lẫy ấy, - tiết kiệm sức lao động và làm cho đời sống được dễ dàng hơn, - lại mang đến cho chúng ta quá ít hạnh phúc như vậy? Câu trả lời là: Bởi vì chúng ta chưa học cách sử dụng nó theo lương tri. (Why does this magnificent applied science, which save work và makes life easier, bring us so little happiness? The simple answer runs: Because we have not yet learned to make sensible use of it. – Albert Einstein. Address, California Institute of Technology. The great Quotations, Science. p.854)”
4. Khoa học đã trở thành một trong những hoạt động có tốc độ phát triển nhanh nhất của loài người.
5. Khoa học là Tri thức, mà Tri thức là sức mạnh (Knowledge itself is power. – Francis Bacon).
6. Khoa học đẩy lùi dần mê tín, tà thuyết, tà đạo.
II. Sự nghiệp tu hành và hoằng hóa
1. Đạo Phật là đạo của trí tuệ. Khoa học là trí tuệ thế gian phù hợp với lý trí, không mâu thuẫn với Phật pháp, do vậy mà khi hoằng hóa người tu sĩ cần có những hiểu khoa học nhất định.
2. Nhìn chung, tăng sĩ có tri thức khoa học hiểu kinh điển sâu sắc hơn, đồng thời có thể dùng khoa học để lý giải, thuyết minh chân lý đạo Phật.
- Việc hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo sẽ được dễ dàng và có hiệu quả hơn khi hàng tu sĩ có trình độ văn hóa và khoa học vững vàng.
- Cảm hóa tha nhân bằng đức, nhiếp phục họ bằng trí, và bắt đầu bằng thế trí, mà khoa học là thế gian trí tiêu biểu nhất.
3. Khoa học - Kỹ thuật cung cấp những phương tiện trợ duyên cho sự học hỏi và truyền bá chánh pháp.
- Về phương tiện tri thức, có các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội; các nghành y học, tin học, giáo dục học v.v…
- Về phương tiện vật chất, như: video, cassette, máy vi tính.
4. Biết và sử dụng được một vài phương tiện kỹ thuật chưa đủ để có thể gọi là có tri thức khoa học.
III. Phật pháp và Khoa học
1. Phật pháp là Chánh trí, là Chân lý trong khi khoa học thì đang trên con đường đạt tới Chân lý. Do vậy mà cái biết của khoa học đã và đang tiến hóa theo thời gian, còn những điều đức Phật nói ra là Sự Thật hiển nhiên “như thị”, không có gì phải “xét lại”, như Albert Einstein, nhà bác học vĩ đại nhất của thiên niên kỷ đã nhận định: “Nếu có một tôn giáo nào thích ứng được với các nhu cầu khoa học hiện tại thì tôn giáo đó chính là Phật giáo. Phật giáo không cần duyệt xét lại hầu cập nhật hóa với những khám phá khoa học mới đây. Phật giáo không cần từ bỏ quan điểm mình để theo khoa học, vì Phật giáo không những bao gồm cả khoa học mà còn vượt qua cả khoa học nữa.”
2. Căn cứ trên biện chứng “giải thoát là tu trí (trí độ)” thì Phật pháp là “cái chuẩn”, là “thước đo” trình độ khoa học chứ không thể dùng khoa học làm thước đo Phật pháp, - như một số phật tử trí thức đã mắc phải sự nhầm lẫn này.
3. Khoa học khám phá những quy luật của thế giới vật chất, chứ tự nó không phải là phương tiện giải thoát con người khỏi phiền não và luân hồi sinh tử.
4. Tu sĩ Phật giáo cần có kiến thức khoa học để:
- được thêm thuận lợi khi hoằng pháp trong một thế giới mà khoa học ngày càng tiến bộ;
- điều chình tình trạng tâm – sinh lý bản thân khi có vấn đề về bệnh lý.
Nhưng không thể cho đó là điều kiện tất yếu bởi vì giáo pháp của đức Thế Tôn đã hoàn toàn đầy đủ cho bất cứ chúng sinh nào - trong cuộc hành trình giải thoát - thực hiện đúng pháp môn Ngài dạy.

Giáo sư - Cư sĩ Phạm Phú Thành

__________________

PHẬT TỨC TÂM ,THƯỜNG LẠC NGÃ TỊNH
ĐẠO THỊ ĐỨC , HĨ XÃ TỪ BI

Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2010

Kinh doanh là trò chơi, tiền bạc là phương tiện , Phật Pháp là tất cả


Ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Hoa Sen là một doanh nhân thành đạt. Tập đoàn Hoa Sen trở thành thương hiệu quen thuộc trong ngành Thép tại Việt Nam trong vòng 5 năm trở lại đây với một sự phát triển có tốc độ nhanh.

Từ đấy, ông ít nhiều trở thành điểm chú ý của nhiều giới, vì thế mà những thông tin về ông cũng khá nhiều người biết. Chẳng hạn như ông đi lên từ hai bàn tay trắng với số vốn ban đầu chỉ có 2 chỉ vàng. Trong vòng 6 năm, từ một công ty thành lập với số vốn điều lệ ban đầu là 30 tỷ thì nay đã là 570 tỷ đồng.

Rồi một số giải thưởng đạt được như Sao vàng đất Việt, Doanh nhân xuất sắc Việt Nam… Và cả những việc tài trợ cho bóng đá, làm từ thiện…

Tuy nhiên, tất cả những điều ấy đối với ông chỉ là phương tiện như ông đã nói. Điều cốt lõi quan trọng nhất mà Lê Phước Vũ hạnh phúc chính là ở chỗ mình là một Phật tử có niềm tin sâu sắc đối với đạo Phật.

Khi trò chuyện về Phật giáo, ông quên hết mọi chuyện xung quanh và nói về Phật pháp với một lòng tin kiên cố. Câu chuyện với ông Lê Phước Vũ rất dài, chúng tôi chỉ xin lược ghi lại những gì cơ bản và ít nhiều riêng tư mà ông đã rất chân thành và cởi mở với VHPG.

Phóng viên (PV): Thưa ông, rất nhiều người được biết một câu chuyện rằng, trong lần làm ra số tiền lớn nhất đầu tiên trong đời, ông đã đem toàn bộ số tiền ấy để thỉnh tượng Phật. Đây không phải là hành động như những người bình thường, vì ai cũng biết lúc ấy ông chưa giàu như bây giờ, có một số tiền lớn lẽ ra phải chi dùng cho cuộc sống chứ?

LÊ PHƯỚC VŨ (LPV): Trên đời này tôi thấy Phật pháp là cao quý nhất không gì sánh bằng. Từ khi tôi nhận thấy được điều đó cho đến nay thì niềm tin ấy không bao giờ thay đổi, một niềm tin tuyệt đối và mạnh mẽ.

Những lời dạy và những giá trị của đạo Phật chi phối mọi hoạt động trong cuộc sống của tôi. Điều quan trọng nhất của người học Phật là cung kính Đức Phật và làm theo lời dạy của Ngài. Cho nên mình có cái gì quý nhất thì mình đem cúng dường. Thỉnh tượng Phật để thể hiện lòng nhớ ơn, một sự cung kính đối với Phật.

Tôi quan niệm hạnh phúc thuộc về mặt tinh thần. Chưa chắc có nhiều tiền đã là hạnh phúc. Có thể sống một đời sống vật chất vừa phải (tất nhiên không để quá nghèo) nhưng vẫn có những giá trị tinh thần lớn lao, như thế đã là hạnh phúc.

Đối với tôi cũng vậy thôi, mình đọc được kinh Phật, hiểu được giáo lý của đạo Phật, và qua đó mình sống tốt hơn, giúp ích được cho nhiều người hơn, từ đó mình thấy đời sống tinh thần, đời sống tâm linh của mình ngày một thăng hoa. Đức Phật, mặc dù nhục thân của Ngài mất cách đây đã hơn hai ngàn năm trăm năm, nhưng Pháp thân của Ngài vẫn hiện hữu trên thế gian này.

PV: Ông thật sự thấu hiểu và có một niềm tin tuyệt đối như thế vào đạo Phật từ khi nào?

LPV: Gia đình tôi có truyền thống theo đạo Phật, bà nội của tôi là người xuất gia từ năm 1972 theo phái khất sĩ. Tiếp theo ba tôi cũng theo đạo Phật. Hồi xưa, mình sống theo tín ngưỡng gia đình thôi. Lúc đó đạo Phật đối với tôi mang tính tín ngưỡng nhiều hơn là sự tỏ ngộ tâm linh và một sự thấu hiểu, quán triệt tinh thần về tâm linh.

Năm 30 tuổi, nhiều thiện duyên đến. Với tôi, có thể nói việc quay lại với đạo Phật là nhờ vào tha lực, một nhắc nhở của một thế giới tâm linh cao hơn. Tôi nhớ có nhiều sự kiện trong đời sống làm cho tôi ngạc nhiên bất ngờ. Tôi đã từng không tin vào thế giới tâm linh, không tin có Trời, Phật… ngoài thế giới con người. Những gì tôi thấy, tôi nếm, tôi nghe, cảm nhận được thì mới tin.

Rồi có nhiều chuyện xảy ra trong cuộc sống buộc tôi phải thấu hiểu rằng, chắc chắn có một thế giới tâm linh. Lúc đó tôi gần như hoàn toàn sụp đổ. Tôi bắt đầu quan tâm đến cái thế giới đó. Nhiều câu hỏi đặt ra trong tôi: Gốc rễ của thế giới đó là gì? Sự tương tác giữa con người và tâm linh là gì? Và nó tương tác qua cái gì? Sau tất cả, bản chất của thế giới tâm linh đó là gì?...

PV: Thế rồi ông đã tự tìm ra câu trả lời cho mình như thế nào?

LPV: Tôi bắt đầu đọc và tìm hiểu trong kinh Phật rất nhiều nhưng ban đầu vẫn không tự giải thích được. Sau này, khi tôi đọc kinh Thủ Lăng Nghiêm, lúc đó tôi còn làm nghề lái xe, mỗi lúc nghỉ ngơi tôi lại lấy kinh ra đọc, đọc đến trang nào nhập tâm trang đó, dần dà tôi hiểu được mối giao thoa giữa con người và đời sống tâm linh.

Có thể nói, thiện duyên lớn nhất giúp tôi bước vào đạo Phật và giác ngộ chính là bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm. Sau thiện duyên đó, tôi phát nguyện thường trì tụng bộ kinh này. Và rồi tôi đi tìm một người thầy để quy y.

Mãi sau này, đọc đến kinh điển Đại thừa, tôi hiểu rằng cái tinh túy nhất của đời sống là huệ mạng. Tôi tin rằng nhiều kiếp mình đã tin Phật, hành trì theo đạo Phật và học pháp theo Đại thừa. Hình dung giống như một đời mình sinh ra đã phát nguyện tu hành.

Khi tôi đến với Phật giáo không phải là những cái tôi học trong sách. Có những cái tôi đọc và nhập tâm rất nhanh. Có những lời mình nói ra, và khi đọc lại kinh thì giống y chang. Giống như những dữ liệu trong máy vi tính, mình đã nhập dữ liệu trong bộ nhớ, chỉ cần đúng mật mã là nó hiển thị ra. Dường như tôi có căn lành với Phật pháp.

PV: Về mặt lý thuyết là thế, còn thực tế thì ra sao, bởi vì con người ta thường có xu hướng phải thấy thực tế mới tin được, sách vở đôi khi chỉ có tính hỗ trợ hoặc giúp ta kiểm chứng lại thực tế để từ đó công nhận đúng sai mà thôi. Vì thế, để có được niềm tin sâu sắc và kiên cố đến ngày hôm nay, thực tế mà anh đã trải qua là gì?

LPV: Khi đã ngộ đạo rồi thì nên thực hành, thực hành để bảo đảm hai việc, thứ nhất là chuyển hóa tâm thành các phước báu thế gian, và thứ hai là chuyển hóa tâm thức, vì chuyển hóa tâm thức chính là cái gốc của người tu.

Trong quá trình tu tập, cũng có thể có thầy trực tiếp hoặc là thầy về mặt tâm linh, nếu có duyên thực hành thì sẽ thấy sự mầu nhiệm của nó. Ví dụ, khi mình khởi một sự nghi tình, mình thường không có lời giải. Bỗng nhiên trong cuộc sống xảy đến những chuyện đem đến cho mình một lời giải thích hoặc kết luận rất thích đáng.

Người nào thực hành Phật pháp, là hành giả, có một hành tâm sâu và có căn lành thì thường trong việc học của họ, trong cuộc sống của họ luôn có những diễn biến như vậy.

PV: Thế thì nhân duyên về mặt tâm linh để đưa ông đến với công việc kinh doanh như thế nào?

LPV: Vào thời điểm bắt đầu hiểu Phật pháp, tôi chỉ có một ước nguyện lớn nhất là mong muốn xuất gia. Nói nôm na là chỉ muốn đi tu, không muốn ở đời. Lúc đó tôi đã có vợ và một con trai. Bà xã của tôi khóc quá trời. Bởi vì khi đó tôi thấy thế gian này không nghĩa lý gì hết.

Sau đó, tôi cầu nguyện rất nhiều và hiểu rằng mỗi người sinh ra trên thế gian này có một sứ mệnh riêng. Song song, tôi bắt đầu gặp những cơ hội trong kinh doanh. Có những lúc bế tắc, tôi cầu nguyện và thấy mình sang suốt hơn, minh mẫn hơn, tìm thấy con đường đi đúng đắn hơn. Nói nôm na theo kiểu đi thỉnh kinh của Đường Tam Tạng ấy, cũng trải qua nhiều gian nan nhưng cuối cùng cũng tai qua nạn khỏi.

Đạo Phật chỉ cho tôi thấy rằng, trong bất cứ việc làm nào, tôi cần có cái trí và cái dũng để vượt qua những bế tắc. Tôi gặp nhiều gian truân mới có được sự nghiệp như ngày hôm nay. Nhưng trong quá trình ấy, tôi được rất nhiều may mắn và duyên lành dẫn dắt tôi đi.

PV: Bây giờ xem như ông ta là doanh nhân thành đạt. Ông nói mình giác ngộ đạo Phật, hành trì Phật pháp trong đời sống. Vậy trong việc kinh doanh, ông áp dụng như thế nào về tinh thần của đạo Phật. Chúng ta sẽ bắt đầu từ đề tài là quản trị nhân lực, văn hóa Phật giáo ở Tập đoàn Tôn Hoa Sen như thế nào?

LPV: Phật pháp bất ly thế gian pháp, hay thế gian pháp cũng là Phật pháp. Tôi nghĩ rằng do cái tâm mình thôi. Nếu mình giữ cái tâm đúng, trong sáng, cái tâm cho chính và có trí tuệ, thì việc hành xử trong thế gian và Phật pháp cũng không có gì khác.

Trong công ty tôi, các nhân viên của tôi rất hiền, rất đàng hoàng, chỉ có một mình tôi… dữ. Đó là vì tôi phải nghiêm khắc. Thế gian này, người ta sống với nhau gian nhiều hơn ngay, ai làm gì cũng mánh mung, kiếm chác, vị kỷ… tôi không nói tất cả mà là đa số.

Người tốt cũng có, nhưng ít, hoặc là nhiều thì cũng bị xu thế xã hội khiến người ta co lại. Tôi làm sao đó để nhân viên của mình ít nhiều sống theo đạo Phật, đó là thành thật, không nói dối, bởi vì sự trung thực hiện nay trong xã hội mình thuộc… hàng hiếm!

Chúng ta nói trung thực thì ai cũng nói được, nhưng nghĩ ra những giá trị mà tác động của nó lên một xã hội, một đất nước, một doanh nghiệp là cực kỳ quan trọng. Tôi nghĩ, sự trung thực là điều cốt lõi nhất trong mối quan hệ cộng đồng. Có trung thực thì quan hệ giữa con người với nhau mới đơn giản hơn, nhẹ nhàng hơn, vì lúc đó những nghi kỵ nhau không còn, mà chỉ có tin cậy và chia sẻ.

Tôi không dám nói chắc rằng nhân viên của Tập đoàn Hoa Sen là trung thực 100%, nhưng phải dám tự hào là trên 95%. Chúng ta là người phàm, tâm chúng ta không thoát khỏi những vị kỷ, đôi lúc do ngoại cảnh. Nhưng, khi đặt ra cho nhân viên của mình tiêu chí trung thực là tôi muốn họ luôn hướng về và giữ gìn điều ấy.

PV: Ông có áp dụng tâm từ bi vào kinh doanh hay không? Xin hỏi một câu rất cũ, nhưng mong một câu trả lời trung thực như tiêu chí của chính ông đặt ra. Với những đối thủ của mình, ông có xu hướng nhân nhượng hay làm bằng mọi cách để chiến thắng?

LPV: Tất cả hành động của mọi người đều là cái nhân để tạo thành nghiệp báo, theo quy luật nhân quả của nhà Phật. Ở trên thương trường thì phải có cạnh tranh, phải có đối thủ. Tùy theo quan niệm nhìn nhận của từng người, có những người có kiến thức đủ và cao thì họ nhìn sự việc một cách khách quan và rất là chuyên nghiệp.

Trong kinh doanh tôi cũng thường bị sự phản ứng của các đối thủ. Tất nhiên miếng bánh chỉ có thể, mình lớn lên thì người khác phải nhỏ bớt lại. Và khi nhỏ bớt lại thì tâm lý con người thường cảm thấy bị tổn thương, bực bội. Tôi có quan niệm rõ ràng rằng mình làm việc này để đem lại lợi ích cho số đông và một cách chân chính.

Lấy ví dụ tôi có một chiến lược kinh doanh, tôi sẽ đưa ra những sản phẩm tốt hơn, dịch vụ tốt hơn để chinh phục thị trường, nếu tôi thắng thì chắc chắn tôi mang lại lợi ích cho số đông. Nếu các đối thủ của tôi muốn chiến thắng tôi, thì họ phải tạo ra một sản phẩm tốt hơn, dịch vụ tốt hơn, như thế cũng là để phục vụ cho xã hội.

Trong kinh doanh, chúng ta phải hiểu rằng đây là cái “game” và phải “fair play”. Khi chơi thì không bực dọc, bực tức, bất bình, người nào chơi giỏi hơn, chơi tốt hơn thì thắng. Khi lên võ đài phải so găng thì phải chiến đấu hết mình và giành được chiến thắng. Nhưng chiến thắng xong rồi thì bắt tay cười.

Tôi dám tự hào và tự tin nói rằng, tôi là người liêm chính trong kinh doanh. Bạn có thể đi hỏi những người có làm ăn liên quan đến tôi xem thử tôi có bao giờ buôn gian bán lận với ai không? Không bao giờ! Mua hàng với người ta cũng vậy, tiền bạc trả sòng phẳng. Làm ăn rất đàng hoàng.

Thế nhưng trong cạnh tranh, tôi thẳng thắn nói rằng mình luôn có những chiêu thức độc chiêu. Có câu nói quen thuộc thương trường là chiến trường. Theo tôi, một ông tướng trên chiến trường không phải bao giờ cũng muốn tiêu diệt người khác đâu. Nhưng nếu ông tướng này không cương quyết thì ông sẽ thua, sở dĩ phải thắng đối thủ là vì ông phải bảo vệ đoàn quân của mình.

Khi mới bắt đầu làm ăn còn nghèo, mục đích của mình là nuôi sống bản thân và gia đình, sau đó tạo công ăn việc làm tăng thu nhập cho những cộng sự, rồi khi có điều kiện mới đóng góp xã hội.

Trong quá trình làm việc đến nay đã tích lũy số vốn lớn, nhưng việc phải tự nhủ mình làm sao sử dụng số vốn đó và làm sinh sôi nảy nở nhiều hơn mà không bao giờ được quên mục đích đóng góp và chia sẻ cho cộng đồng.

PV: Những điều ông nói có mâu thuẫn với tinh thần buông xả của đạo Phật không? Chẳng hạn như là, có nhất thiết phải làm sinh sôi nảy nở số vốn cho nhiều hơn nữa hay không? Vì khi có một tài sản lớn, nào ai dám chắc ông sẽ không muốn nhiều hơn nữa?

LPV: Vấn đề lớn của tôi đặt ra là phải tìm ra đồng tiền một cách chân chính, chính nghiệp và chính mạng, đó là cái lớn nhất mà cho đến hiện giờ tôi đang giữ được. Hãy xem tiền bạc là phương tiện chứ không phải là mục đích.

Cái thứ hai nữa là, mình kinh doanh để tạo ra lợi nhuận. Tạo ra lợi nhuận rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn vẫn là chia sẻ lợi nhuận. Chúng tôi có một khái niệm rõ ràng rằng, Hoa Sen sẽ không bao giờ tạo ra lợi nhuận cao bằng cách bóp tối đa chi phí tiền lương của người lao động. Quan niệm thứ hai là lợi nhuận này phải được chia sẻ với nhiều người. Việc chúng tôi luôn đóng thuế đầy đủ cho Nhà nước, đưa Công ty Hoa Sen ra đại chúng, kêu gọi đầu tư của đại chúng… đó chính là những cách gián tiếp chia sẻ lợi nhuận cho mọi người.

PV: Khi chiến thắng hay đạt được mục đích, ông thấy mình được gì mất gì?

LPV: Tôi đã từng suy nghĩ nhiều về điều này, vì khi tôi càng thành công thì sẽ có nhiều đối thủ không thành công, đó là mâu thuẫn.

Thật ra, kinh doanh có muôn vàn khó khăn và mệt mỏi. Đời sống hiện nay khó khăn, đồng tiền trượt giá… Năm ngoái tôi còn tính thôi đủ rồi, không làm nữa, vì tiền mình đang có cũng đủ nuôi quân, cúng dường, làm từ thiện…

Nhưng các nhân viên của tôi thì bảo: ông đủ rồi nhưng tụi em chưa có. Có những lúc tôi cũng nản lắm chứ, cũng muốn dừng lắm chứ, nhưng dường như có một tiếng nói khác vọng về trong tâm tưởng rằng, chưa đâu, mình còn phải “chiến đấu” để tiếp tục vì bao nhiêu người.

Khi mặc áo giáp của một vị tướng thì phải hành xử như một vị tướng. Nếu tôi muốn sống cuộc đời trong tinh thần từ bi cũng được, chẳng hạn xuất gia, làm từ thiện, nuôi mấy em nhỏ… cái đó càng dễ cho tôi. Nếu chỉ làm giàu cho bản thân mình và gia đình mình, với tôi như thế là quá đủ. Tôi muốn mang lại cuộc sống tốt hơn cho và vì nhiều người khác trong cộng đồng.

PV: Hầu như doanh nhân nào cũng làm từ thiện. Tất nhiên, việc làm từ thiện thì rất tốt. Nhưng cho tôi được mạn phép hỏi một câu rất ngớ ngẩn về động cơ và mục đích của việc làm từ thiện của ông, rằng giữa việc xuất phát từ mục đích vì cộng đồng và để đánh bóng tên tuổi cho doanh nghiệp, phần trăm nào nhiều hơn đối với ông?

LPV: Tôi nghĩ trong giáo lý của Đức Phật có rất nhiều lời dạy rằng phải có một cái nhìn đúng đắn về mọi sự vật, qua cái nhìn đó sẽ có hành động rất chính xác. Giá trị của nó thì rất lớn nhưng để trở thành hiện thực thì phải là một hành động cụ thể.

Mình nói mình thương người không thì không đủ, phải có hành động gì để thể hiện cái thương ấy. Học bố thí cũng vậy.

Tuy nhiên, những của cải mà mình bố thí ấy phải làm ra chân chính bằng mồ hôi, bằng trí óc, bằng sự nỗ lực và lấy của cải ấy giúp cho người khác mới có ý nghĩa. Sự bố thí cúng dường ấy mới đúng.

Trước tiên là giúp người đồng thời với cái thứ hai là giúp mình. Bởi vì trong con người mình thường tham lam, ích kỷ, khi mình làm điều thiện là đối trị với tâm bám víu trong mình, để tâm mình mở rộng hơn. Về vật chất thì đúng là mình giúp cho người khác, còn về tâm linh thì đúng là mình đã tạo sự thăng hoa cho tâm linh của mình.

Những việc làm từ thiện như tôi, tôi nghĩ ở Việt Nam chắc chắn đã có rất nhiều người làm, tôi nghĩ tính vị tha và đùm bọc lẫn nhau ai ai cũng có, có nhiều người làm một cách âm thầm, tôi nghĩ mình chỉ là một trong số đó không có gì đặc biệt.

Tôi nghĩ rằng trong đất nước này vẫn còn có những người có lòng nhân ái, có lòng từ bi, muốn chia sẻ với đồng loại. Điều đó là bình thường chẳng có gì lớn lao.

Cá nhân tôi, để đánh bóng thương hiệu, tôi có nhiều cách khác, như làm sự kiện, làm chương trình truyền hình, tài trợ bóng đá, quảng cáo… Có một số việc từ thiện tôi làm mình tôi biết. Cái mà báo chí và dư luận biết chỉ là một phần nhỏ trong những phần tôi đã làm.

PV: Vậy điều cốt lõi trong kinh doanh của ông và Tập đoàn Tôn Hoa Sen là gì?

LPV: Tập đoàn Hoa Sen luôn có những cách đi riêng của mình không giống như những doanh nghiệp khác để phát triển bền vững, nhưng trên hết phải lấy đạo đức làm nền tảng. Tiêu chí của chúng tôi là trung thực - cộng đồng - phát triển.

Riêng cá nhân tôi, tôi hạnh phúc vì có được những giá trị sống tốt, lại vừa làm được rất nhiều việc để giúp mọi người. Đạo Phật có câu, tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn.

PV: Cảm ơn ông về buổi trò chuyện này. Chúc ông luôn an lạc trong mọi hoàn cảnh.

Theo: Văn hóa Phật giáo
__________________

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2009

Viết về cháu Khôi Nghĩa nhân mùa Vu Lan



Viết về cháu Khôi Nghĩa nhân mùa Vu Lan

Từ khi loài người có mặt ở hành tinh màu xanh này, tình mẹ con đã có mặt. Các loài có tình thức đều có tình cảm đó, nhưng rõ nét và dễ nhận diện vẫn là tình mẹ con trong cõi giới người ta. Văn chương thơ ca từ xưa đến nay không biết bao nhiêu bài viết về tình mẹ, viết hoài vẫn không hết, vẫn mới, vẫn rung cảm sâu xa. Ai đó mà biết nhớ ơn mẹ, thương mẹ từ trong tâm cảm, lời thốt ra đều rung động lòng người. Có trường hợp lời không nói ra, chỉ trầm tư sâu lắng, vén mảnh y vàng quỳ xuống cúi lạy đống xương hỗn tạp bên đường, mà trong đó chắc có hài cốt của ông bà cha mẹ mình trong nhiều đời kiếp, luân hồi bất tận, tử tử sanh sanh. Hình ảnh của trái tim yêu thương nhân thế và biết ơn đền ơn kia chính là Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni. Hình ảnh đó mỗi khi nghĩ đến đã khiến ta rơi lệ, khơi gợi cho chúng ta biết nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục suốt hơn hai ngàn năm qua.

Tình mẹ vô cùng thiêng liêng, cao quý, dùng mỹ từ hữu hạn của con người diễn tả thế nào cũng không nói hết tình mẹ. Mẹ là chuối ba hương, xôi nếp một , đường mía lau, là bao la như biển thái bình, là tơ trời Đâu La Miên, là vầng thái dương vừa loé lên trong những ngày giông bão, là sợi dây của chiếc diều căng gió lộng giữa bầu trời mênh mông mênh mang……Mẹ là vậy nhưng mà đây đó ( số ít ) cũng có người bỏ con bơ vơ, chạy theo ảo ảnh. Làng Tiên Sơn bên kia dòng sông cạnh chùa, có ai đó bỏ cháu mới lọt lòng mẹ một hai ngày, nhau rốn còn lòng thòng máu me nơi nghĩa trang. Năm ngoái nơi bìa rừng sau chùa ai đó bỏ một cháu còn đỏ hỏn, kiến bò lên đầy cả hai mắt, may mà có người gặp đem về dưỡng nuôi…Và đây là câu chuyện của bé Khôi Nghĩa :

Mùa Phật Đản ở cao nguyên là mùa mưa, năm nào cũng vậy tổ chức tuần lễ Phật Đản rất tốn công sức tiền của, nếu có làm xe hoa, lễ đài. Trong sâu xa ở cõi lòng những người con Phật luôn cầu nguyện, tối 14 sáng rằm trời đừng có mưa để cho xe hoa diễu hành, có năm trời chiều lòng người, nhưng có năm trời mưa vẫn cứ mưa, tuy vậy sức mạnh tinh thần vượt thắng tất cả , trong mưa xe hoa vẫn hân hoan diễu hành, dòng người vẫn bất tận, cha mẹ chở con cầm cờ nhỏ ngũ sắc đội mưa đi theo đoàn xe hoa cổ động reo hò cho ngày Đức Phật đản sanh. Xe hoa có nhiều mà con người tham gia cùng đoàn xe hoa quá ít, sẽ làm cho buổi lễ tẻ nhạt, “người ngoài cười nụ người trong khóc thầm”. Cái mệt trong tuần lễ Phật Đản cũng nhiều, nhưng niềm hân hoan cũng không ít, tối rằm mọi vui buồn mệt nhọc rồi cũng trôi qua. Từ 08 giờ đến 12 giờ đêm trời mưa liên lỷ, kéo dài, khoảng 1giờ sáng trời quang mây tạnh trăng sáng vằng vặc, trong cái tĩnh lặng của đêm hè, bỗng chuông điện thoại reo, tôi ngái ngủ cầm điện thoại lên bên kia đầu giây một giọng nữ thổn thức sụt sịt :” Lạy Thầy con là một người mẹ bất hạnh, có con mà không nuôi được con vì hoàn cảnh, xin Thầy cưu mang nuôi dưỡng cháu dùm con, con để cháu trước cổng chùa, Thầy ra mau lên ẵm cháu vô chùa dùm con”. Tim tôi đập loạn xạ, run rẩy đi gọi chúng điệu trong chùa và các Phật tử làm công quả dậy ra cổng Tam Quan chùa bồng cháu vào. Lúc bấy giờ là 1giờ 30 sáng, mẹ cháu đem theo cho cháu rất nhiều quần áo tả lót, cả sữa và bình bú nữa. Nằm trên nắp giỏ bằng nhựa, nghe tiếng người cháu khóc lên, trong đêm trường tĩnh mịch của một ngôi chùa núi, bốn bề vắng vẻ tịch liêu, tiếng trẻ khóc làm tim tôi nhói đau, tôi bế cháu lên mà nước mắt lã chã , chạy vô phòng đặt cháu lên giường, cháu lại khóc thét lên, tôi vội vàng pha sữa, sữa nhiều nước ít cháu uống không được lại sựa ra, lần thứ hai nước mắt tôi lại chảy. Bên trong ngực của cháu có lá thư, nội dung cũng giống như lời lẽ nói chuyện với tôi qua điện thoại, đọc thư được biết cháu vừa đúng một tháng 3 ngày. Mẹ cháu chưa đặt tên, và tôi đã nghĩ đến cái tên đặt cho cháu sau này.

Làm Thầy hay làm cha mẹ ai cũng mong muốn kỳ vọng vào tương lai của con mình, đệ tử mình. Đặt tên là bày tỏ ước vọng đó, tôi đặt tên cho cháu là Nguyễn Nhân Nghĩa. Nhân: được mọi người yêu mến.Nghĩa: được mọi người trung. Nhưng khi trình báo với chính quyền địa phương, vị cán bộ công an lập biên bản trường hợp trẻ bị bỏ rơi viết chữ Nhân khó đọc quá, vị cán bộ hộ tịch đọc chữ Nhân thành chữ Khôi, khi nhận giấy khai sinh cho cháu tôi thấy chữ lót của cháu đã khác,tôi có nói về chuyện đó, vị cán bộ hộ tịch nói để làm lại. Tôi tra lại tự điển Hán Việt thấy nghĩa chữ Khôi:” Cái gì mất mà tìm lại được là Khôi, như khôi phục”. Tôi yên tâm như vậy là được rồi, Nhân Nghĩa thời nay đã mất đi, mai một nhiều lắm rồi, làm cách nào để khôi phục lại cái Nhân Nghĩa đã mất kia là một chuyện đáng làm, do vậy tên cháu bây giờ là Nguyễn Khôi Nghĩa. Cháu khuôn mặt chữ điền, vầng trán cao rộng, tai to có thuỳ châu, mắt một mí, mũi tẹt mà trống, miệng rộng và luôn cười, mỗi khi cười có hai hạt gạo bên khoé miệng. Tóm lại không đẹp mà dễ thương, ai nói chuyện cháu cũng cười không phân biệt, bình đẳng khi ban phát nụ cười nên được nhiều Phật tử thương mến.

Tôi đã hiểu ra vì sao khi về già văn hào Victo Hugo, chỉ biết sống cho cháu vì cháu, và làm rất nhiều thơ cho cháu. Ông rất hạnh phúc và tự hào tuổi già của mình đã có những đứa cháu yêu quý. Tôi cũng vậy chăm sóc nuôi dưỡng cháu, và các cô chú công quả lớn tuổi, và cả điệu chúng trong chùa ai cũng cảm thấy hạnh phúc khi được ẵm bồng, nựng nịu cháu. Chúng ta yêu trẻ là yêu cái hồn nhiên ngây thơ của chúng, khi cái tham, cái sân, cái si của chúng còn tiềm ẩn trong tàng thức chưa hiển lộ rõ ràng như khi lớn. Tổ Tỉnh Am có nói trong Văn khuyên phát tâm Bồ Đề một câu như thế này “ Nhỏ thì ngây ngô không biết gì, lớn lên tham dục liền sanh”. Ta yêu trẻ bởi vì trẻ ngây ngô, có cái cười không phân biệt, ta yêu một bậc chân tu cũng là vì lẽ ấy, tu cho giỏi cho đàng hoàng, có giới, có định, có tuệ, ta cũng có nụ cười đẹp như trẻ thơ, có nụ cười bình đẳng ban phát cho tất cả không phân biệt thân sơ.
Chúng tôi có đôi lúc cũng buồn cười, nghĩ về tương lai đạo pháp luôn có những suy tưởng viễn vông. Ngồi một mình có đôi lúc tôi mơ màng nghĩ đến chuyện đời xưa. Ngày xưa đất nước chúng ta có vua Lý Thái Tổ ( Lý Công Uẩn ) là một vị minh quân hết lòng vì dân vì nước, thương yêu dân như con ruột của mình. Vì sao được như vậy ? Bởi vì chú bé Lý Công Uẩn cũng được mẹ bỏ trước cổng chùa, được Thiền sư Lý Khánh Văn nhận làm con nuôi, và sau này lớn khôn được Thiền Sư Vạn Hạnh dạy dỗ, hấp thụ tinh thần từ bi khoan hoà của Đạo Phật nên khi lớn lên, lịch sử sang trang làm vua mà yêu dân như con đẻ của mình. Thiền Sư Ô Sào ( Ô là quạ, Sào là tổ ) một cao tăng, sống vào đời Đường Trung Quốc, cũng được mẹ bỏ trong tổ quạ trước chùa, tu hành nghiêm túc sau này trở thành một Thiền Sư lừng lẫy trong lịch sử Thiền Tông Trung Quốc. Ngài có một giai thoại:”Dấu ấn tuổi thơ được mẹ bỏ trong tổ quạ trước chùa, nên sau này làm Thiền Sư ngài luôn ngồi Thiền trên cây ( chỗ ngồi Thiền trên cây Ngài làm giống như một tổ quạ ) có lần thi sĩ Bạch Cư Dị đi ngang qua ngước mặt hỏi Ngài:” Bạch Sư ! Bí quyết của Phật Pháp là gì?” Ngài trả lời:”Các điều ác không làm - Các điều thiện luôn thực hiện - Tự làm trong sạch tâm mình - Đó chính là lời Chư Phật dạy” Thi Sĩ Bạch Cư Dị tỏ ý không vui:” Câu Ngài vừa trả lời tôi trẻ lên ba cũng thuộc”. Thiền Sư Ô Sào cười nói tiếp:” Trẻ lên ba học thuộc nhưng ông già 80 tuổi vẫn không làm được” .

Lịch sử là một dòng chảy bất tận không dừng, không ai biết được ai sau này sẽ làm nên lịch sử. Khéo nuôi dưỡng đào tạo, cọng với âm đức của cha mẹ của người nuôi dưỡng, vụng cũng thành khéo, thông minh trung bình cũng có thể làm nên. Chủ quan, phó mặc không tin nhân quả tội phúc trong khi nuôi dưỡng con, có khi khéo trở thành vụng, thông tuệ trở thành kẻ phá hoại, nặng gánh cho gia đình và xã hội. Ở bầu thì tròn ở ống thì dài, gần mực thì đen gần đèn thì sáng cũng từ ý nghĩa đó.

Vô thường đến đi, ai kịp hẹn ai. Tôi nay đã hơn tuổi ngũ thập tri thiên mạng. Đời người chỉ trong một hơi thở như lời Đức Phật dạy, hơi thở dừng lại trong tích tắc sát na, đã qua đời khác. Nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu viết những dòng chữ này để tặng cho những ai diễm phúc còn mẹ, và cũng nhớ đến mẹ cháu, một người mẹ bất hạnh, không được ẵm bồng nâng niu con, nghe hơi thở thơm mùi sữa của con, được nhìn thấy con cười, được dỗ dành khi con khóc. Chúng tôi không trách móc, chỉ cố hiểu để thương, trong chúng ta có nhiều người lâm vào trường hợp bỏ thì thương vương thì tội, và luôn tâm niệm sau này cháu lớn khôn, kể về mẹ cháu bằng những lời lẽ thương mến cảm thông nhất. Và riêng tôi ngộ nhỡ vô thường đến bất kỳ, rất mong cháu Nguyễn Khôi Nghĩa được chư vị hữu tâm nuôi giáo dục cháu , biết đâu chuyện đời xưa được lập lại, hi hi .

Mùa Vu Lan Phật Lịch 2554 - 2009
Chùa Bửu Minh, Gia Lai
Thích Giác Tâm

Thứ Hai, 29 tháng 9, 2008

BÍ QUYẾT BỎ THUỐC LÁ

BÍ QUYẾT BỎ THUỐC LÁ

Bác sĩ Nguyễn Văn Đức
8748 E. Valley Blvd., Ste H
Rosemead, CA 91770
Tel: (626) 288-3306

Hút thuốc lá, tự tàn phá cơ thể, làm hại cả người chung quanh. Khắp thế giới hiện đang dậy lên phong trào chống thuốc lá. Người hút thuốc nay bị cấm hút nhiều nơi (ở nhà, vợ bảo ra đường mà hút, ở sở, chủ không cho, luật giờ lại cấm hút nơi cả các tiệm ăn, quán rượu và chỗ giải trí bằng bài bạc). Cầm điếu thuốc lá, đâm mặc cảm, ngó trước liếc sau. Thuốc lá lại ngày càng đắt, biết vợ còn cho tiền mua hút nữa hay không. Đã khó khăn thế, bỏ quách cho xong.

Bỏ thuốc, sao mà không dễ?

“Nhớ ai như nhớ thuốc lào
Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên”
Cái nhớ thuốc lá chắc không kém cái nhớ thuốc lào, vì thuốc lá nay được xếp hạng ngang với rượu, cocaine, bạch phiến, trong việc gây nghiện ngập (tạo cảm giác sảng khoái, khi không có nó đâm khó chịu, khiến người ta cuống quít đi tìm và dùng nó). Chất nicotine có trong thuốc lá, nếu chích vào máu, gây những tác dụng cho cơ thể ta giống chất cocaine.
Có nhiều yếu tố trong và ngoài cơ thể khiến người ta phì phèo điếu thuốc trên môi, nhận diện được chúng, sẽ giúp ta bỏ thuốc lá dễ hơn.
Một người hút một gói thuốc lá mỗi ngày, mỗi năm, hít nicotine vào phổi khoảng 73.000 lần. Như thế, nicotine vào máu, rồi lên óc 73.000 lần. Mỗi lần lên óc, nicotine bám vào những “chỗ tiếp nhận nicotine” (nicotine receptors) hiện diện ở các dây thần kinh óc. Bám trụ nơi những chỗ tiếp nhận ấy, nicotine kích thích các dây thần kinh óc, làm tiết ra chất catecholamines, tạo cảm giác sảng khoái, bớt căng thẳng, và làm tăng sức chú ý. Khi lượng nicotine trong người xuống thấp, người nghiện thuốc lá thấy bứt rứt, khó chịu, khó tập trung tư tưởng, nên rít thêm hơi nữa, hoặc châm điếu khác.
Chất nicotine còn kích thích, làm tiết chất catecholamines ở khắp cơ thể, khiến các hoạt động của hệ thống thần kinh tự động giao cảm tăng lên. [Trong cơ thể ta có hai hệ thần kinh tự động, “giao cảm” (sympathetic autonomic nervous system) và “đối giao cảm” (parasympathetic autonomic nervous system). Chúng tác động đối nghịch, canh chừng, trung hòa lẫn nhau, giúp cơ thể ta hoạt động bình thường. Chẳng hạn, hệ thần kinh giao cảm làm tim ta đập mạnh, áp huyết tăng cao, mặt tái đi, tay chân run rẩy, ngược lại, hệ thần kinh đối giao cảm làm tim ta đập chậm lại, áp huyết thấp lại bình thường, tay chân bớt run]. Hệ thần kinh giao cảm, khi tăng hoạt động, tạo những cảm giác mạnh. Nên, ngoài các tác dụng trên óc, có thể nicotine gây nghiện một phần qua cơ chế làm tăng sự hoạt động của hệ thần kinh giao cảm. Nhiều người thích những cảm giác mạnh, nhất là khi tim đập nhanh, gây do nicotine.
Thêm vào đấy, những yếu tố bên ngoài cơ thể cũng hỗ trợ việc hút thuốc. Chơi với bạn hút thuốc, khó lòng không hút. Xã hội dễ dãi với việc hút thuốc, người ta hút nhiều, xã hội khó khăn, người ta nhụt bớt. Nhiều người cho rằng, sau bữa cơm, uống ly rượu, hút điếu thuốc, còn gì thú bằng. Có người, sau khi hoàn tất một công việc, tự thưởng mình điếu thuốc. Rồi, với những căng thẳng của cuộc sống, nhiều người không dám đương đầu, khi rít điếu thuốc lá, căng thẳng tạm thời tiêu tan.
Đặc biệt, nơi người đã nghiện, chất nicotine trong thuốc lá có tác dụng điều hòa tình cảm, tăng cường nhận thức và sức chú ý, đồng thời làm dãn nỡ các bắp thịt. Người nghiện thuốc lá bảo rằng hút thuốc lá đã lắm, vì thuốc lá an thần, vừa giảm bớt căng thẳng, vừa làm vơi cơn sầu. Nên người hút thuốc lá có cách để giữ lượng nicotine luôn cao trong cơ thể họ. Vờ hút thuốc lá có đầu lọc hầu tự đánh lừa mình rằng loại thuốc lá này nhẹ, có đầu lọc nên ít hại, nhưng họ sẽ hút nhiều hơn và hít vô phổi sâu hơn.
Một lý do khác khiến người hút thuốc khó giã từ khói thuốc, là vì mỗi khi bỏ hút, lại lên cân mất eo. Thuốc lá có tác dụng làm giảm cân, do làm tăng sự hoạt động của hệ thần kinh giao cảm, thúc đẩy bộ máy cơ thể chạy nhanh hơn, tiêu thụ năng lượng nhiều hơn. Thêm vào đấy, thuốc lá cũng làm tăng sự biến dưỡng của chất mỡ trong cơ thể, cản không cho lên cân, hoặc khiến ngày càng còm đi.
Nicotine trong khói thuốc gây hiện tượng “quen thuốc” (tolerance) và “nghiện” (dependence). Điếu thuốc đầu ngày tạo tác dụng mạnh nhất, sảng khoái nhất. Trong ngày, cơ thể quen với thuốc, hút miết, cũng không còn đã như điếu đầu ngày. Nghiện là hiện tượng không có không được, nên khi lượng nicotine hơi xuống một chút trong cơ thể, người hút thấy khó chịu, phải hút tiếp, điếu này sang điếu khác. 20% số người mê thuốc lá (cứ 10 người, có 2 người), một ngày kia, nghe lời vợ, bỗng chia tay với thuốc lá cái một, không sao cả. Song, 80% những người hút thuốc còn lại, khi đột ngột bỏ thuốc lá, bị nó hành. Chỉ trong vòng vài giờ, người bỏ hút thấy trong người bứt rứt, khó chịu, căng thẳng, buồn bực, thiếu kiên nhẫn, thèm thuốc lá. Đồng thời, họ thấy mệt mỏi, kém linh hoạt, khó tập trung tư tưởng.
Triệu chứng do bỏ thuốc lá nặng nhẹ tùy người, khó chịu nhất khoảng 48 tiếng sau (2 ngày), rồi giảm dần trong vòng 2 đến 5 tuần lễ. Ăn ngon miệng và lên cân có thể tiếp tục kéo dài đến tuần thứ 10. 2 tuần đầu sau khi bỏ hút là khoảng thời gian quan trọng nhất, dễ làm người ta hút lại nhất, vì những khó chịu của cơ thể do việc bỏ hút gây ra. Bỏ được thuốc lá rồi, việc thèm hút lại có khi kéo dài đến vài tháng. Lúc đó, thèm hút thuốc lá lại thường là do hoàn cảnh bên ngoài, hơn là do những khó chịu của cơ thể. Chẳng hạn, gặp lại những ông bạn quí ganh tỵ thấy mình đã bỏ hút được, bàn nhau rủ đi nhậu, rồi phì phèo thuốc lá trước mặt mình (cũng may, nay thì khó rồi, vì luật Cali cấm hút thuốc lá trong quán ăn). Lúc ấy, thương cho các bạn còn vướng nghiệp thuốc lá, bạn can đảm khuyên mọi người theo gương bạn, cùng bỏ hút.

Bỏ thuốc lá

Khi quyết định bỏ thuốc lá, có hai vấn đề đặt ra: dứt bỏ thói quen và vượt thắng cái ghiền chất nicotine. Một số người tự mình nghỉ hút dễ dàng, đa số cần các giúp đỡ thêm để nghỉ hút.
Bạn dễ bỏ hút hơn nếu bạn dùng các phương cách giúp bỏ hút, đồng thời tìm sự nâng đỡ của người khác. Bây giờ người hút thuốc lá có nhiều lựa chọn, phương tiện giúp bỏ hút hơn trước: nhiều thuốc giúp khuất phục cái ghiền chất nicotine, và cũng nhiều nơi trong cộng đồng, qua điện thoại, trên internet cung cấp những khuyên nhủ, nâng đỡ tinh thần.
Nếu quyết tâm, bạn có thể bỏ hút thuốc lá chứ. Hiện ở Mỹ số người đã bỏ thuốc vượt trội số người còn đang hút. Quan trọng là bạn chọn một ngày nhất định nào đó để vĩnh biệt thuốc lá và sửa soạn cho ngày này. Việc khác là tìm cách giảm thiểu các triệu chứng gây do chất nicotine trong máu bạn giảm xuống khi bạn bỏ hút. Sau đây là vài phương cách những người đã từng bỏ thuốc lá họ thấy rất hữu ích:
Bạn chọn một ngày để nhất định bỏ thuốc. Cố tìm một khoảng thời gian nào bạn nghĩ sẽ không có nhiều căng thẳng trong cuộc sống của bạn.
Bạn nhớ cho mọi người thân biết ngày bạn sẽ nhất quyết bỏ thuốc. Bạn bè và gia đình có thể nhắc nhở, giúp bạn đừng quên ngày này.
Thuốc khi bỏ thuốc, bạn nhắm sẵn những hoạt động sẽ làm bạn thấy vui, khỏe khoắn, năng động, và bạn dự định một chương trình tham dự những hoạt động này ít ra trong vòng vài tuần đầu khi mới bỏ thuốc. Bạn sẽ cần có cái gì làm để tâm trí bạn lãng quên, không nghĩ đến thuốc lá nữa.
Khi bạn cảm thấy thèm châm một điếu thuốc lá, hãy hít thở sâu, mạnh vài cái và uống chút nước. Trong vòng một hai tuần đầu, bạn có thể phải cần đến phương cách này thường.
Bạn xem xét lại những lần bỏ thuốc thành công trước, và nhận diện những yếu tố đã từng giúp bạn thành công.
Bạn lập danh sách các lý do khiến bạn muốn bỏ thuốc (sức khỏe tốt hơn, cả cho toàn gia đình bạn nữa, bạn thấy vui thỏa khi dứt bỏ được con ma thuốc lá, …). Mỗi tối trước khi vào giường, bạn nhẩm nhắc đi nhắc lại một trong các nguyên nhân này 10 lần.
Bạn nhận biết các triệu chứng khó chịu do việc bỏ thuốc chỉ tạm thời và thường kéo dài khoảng 1-2 tuần thôi. Cố gắng đi bạn, thời gian 1-2 tuần này không lâu đâu và rồi bạn sẽ thấy dễ chịu hơn.
Bạn biết rằng tuần đầu là tuần lễ khó khăn nhất vì cơ thể bạn còn đang phụ thuộc vào chất nicotine và các triệu chứng khó chịu do việc bỏ thuốc trong thời gian này sẽ mạnh nhất.
Bạn cũng nên biết đa số các trường hợp thèm hút thuốc lại xảy ra trong vòng 3 tháng đầu sau khi bỏ thuốc, nhất là khi có chuyện khiến bạn căng thẳng, hoặc khi bạn gặp gỡ một người quen còn đang hút.
Bạn đừng nản chí nếu chưa thành công khi cố dứt bỏ con ma thuốc lá, còn nhiều cách khác nữa bạn có thể thử.
Nhờ người khác giúp sẽ khiến triển vọng bỏ thuốc của bạn dễ thành công hơn. Hãy nói chuyện với gia đình và bạn bè bạn về ý định bỏ thuốc của bạn (cẩn thận tránh đừng tâm sự với những người còn đang hút mạnh, không có ý định bỏ, sợ họ sẽ xấu tính bàn ra chăng). Nếu có thể, bạn gia nhập một nhóm hỗ trợ việc bỏ thuốc (support group); đa số các nhóm này họ giúp đỡ miễn phí.
Bạn cũng nên hiểu rằng hầu hết những người đã bỏ thuốc thành công không phải ai cũng quyết bỏ một lần là được, thường cũng đã phải từng thử mấy lần. Nếu bạn lỡ châm một điếu thuốc trong lúc đang cố bỏ hút, đừng vội nản lòng, thất vọng, hãy nhanh chóng quyết định bỏ nữa.
Bạn hãy tìm cách thay đổi môi trường chung quanh bạn. Nhiều yếu tố bên ngoài tạo điều kiện cho cơn thèm thuốc của bạn trỗi dậy, nên tránh chúng. Chẳng hạn, đi ăn, bạn chọn tiệm ăn không cho hút thuốc lá, để bạn không bị điếu thuốc lá cám dỗ sau khi ăn.
Bạn tránh môi trường có khói thuốc lá.
Bạn đặt ra một chương trình vận động. Người năng vận động bỏ thuốc lá dễ thành công hơn người không vận động. Vận động cũng giúp bạn tránh lên cân khi bỏ thuốc, đồng thời tăng cường năng lực cho bạn.
Bạn ăn một thực phẩm lành mạnh nhiều rau sống, và uống 8 ly nước mỗi ngày.
Bạn tránh rượu, cà phê và các thức uống có chứa chất cà phê, vì những thức này có thể khiến bạn thèm có lại chất nicotine trong cơ thể.
Bài sau, chúng ta sẽ bàn đến các thuốc giúp bỏ thuốc lá.

(Theo tài liệu “Tips for Quitting” trên website www.patientedu.org của trường Đại Học Y Khoa Harvard.)

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2008

Thi Sĩ Bùi Giáng, và tình cảm với các Sư Cô


Thi sĩ Bùi Giáng

và tình cảm với các Sư Cô






Một con người xuất khẩu thành thơ, đi mua chịu rượu và đồ nhậu, ghi vào sổ nợ cũng ghi bằng thơ, viết văn và làm thơ với một tốc độ kinh hồn, ông để lại cho nền văn học Việt Nam một số lượng tác phẩm đồ sộ, giá trị. Vậy mà số phận thật hẩm hiu, ông có vợ, có người yêu nhưng không tìm thấy hạnh phúc, ông chia tay với vợ, với người yêu và giong ruỗi đi tìm, đi tìm giai nhân khắp bốn phương trời, tìm trong mộng, trong thi ca và trong cả những ngôi chùa mà ông có duyên đến và được đón nhận, không mặn nồng nhưng vẫn không lạt lẽo. Bởi vì ông có thời dạy văn chương ở Đại Học Vạn Hạnh của Phật giáo ở đường Trương Minh Giảng Sài Gòn, với lại ông có điên điên nhưng lành không phá phách, nên những ngôi chùa ông đến đều cho ông ăn cơm, thỉnh thoảng có cho tiền nữa. Ngôi chùa ông thường đến là ngôi chùa Dược Sư ở đường Lê Quang Định Gò Vấp, Thành Phố Hồ Chí Minh, nơi đó có phòng phát hành kinh sách Phật Giáo, có Sư Cô Như Hạnh phụ trách. Tôi mê sách nên mỗi khi đi Sài Gòn là luôn ghé lại chùa Dược Sư, có quen Sư Cô Như Hạnh, tôi thường ghé phòng phát hành kinh sách và Thi Sĩ Bùi Giáng cũng hay ghé lại, bởi vậy tôi có gặp ông. Hôm đó ông tới ( xin lỗi tôi không còn nhớ rõ năm ) và cũng đúng lúc nhà chùa thọ trai, nên Sư Cô Như Hạnh vô bên trong nhà trù bưng ra đĩa cơm mời ông, ăn xong còn dúi tiền vào tay ông nữa. Trên bàn có viết và giấy, ông tự tay lấy viết và hý hoáy viết. Tít tắt ông bỏ viết xuống và nhìn Sư Cô Như Hạnh cười móm mém, như thầm cảm ơn và ra đi.
Ông đi rồi Sư Cô Như Hạnh, đưa tờ giấy có chữ viết của Thi Sĩ Bùi Giáng với nét bút sắt thật đẹp cho tôi, ông viết không đẹp như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhưng mà vẫn đẹp, bay bướm nữa. Ông viết bốn câu lục bát :

Đi tu thứ nhất ở chùa,
Thứ nhì ở tận cuối mùa lang thang -

Dược Sư thơ mộng vô vàn,
Sầu lên vút tận mây ngàn tần thân.

Hai chữ tần thân ông viết bằng chữ Việt, ông mở ngoặc viết chữ Hán rồi đóng ngoặc lại. Tôi không hiểu hai chữ tần thân, sau này tra Tự Điển Hán Việt có nghĩa như sau: Tần : luôn luôn - Thân: rên rỉ .

Đọc bốn câu thơ lục bát của ông, mới thấy được cái tài hoa, cái xuất khẩu thành thơ của ông, cái uyên áo trong tứ thơ của ông. Tôi có một người bạn ở Hoa Kỳ, cũng là một thi sĩ am hiểu Phật học, tôi gởi tặng anh hai câu “ Đi tu thứ nhất ở chùa, thứ nhì ở tận cuối mùa lang thang “ Anh hiểu theo cách hiểu của anh, giảng lại cho tôi nghe rất dài dòng văn tự. Anh giảng câu đầu là ông nói về tục đế, câu thứ hai nói về chân đế, trong tục có chân và trong chân có tục, tương nhiếp lẫn nhau, vân vân và vân vân. Tôi chỉ nghe không ý kiến bởi vì chỉ có Thi Sĩ Bùi Bàng Giúi mới có thể giảng giải thâm ý của ông .


Tôi mơ màng nghĩ ngợi hai câu sau :


Dược Sư thơ mộng vô vàn,
Sầu lên vút tận mây ngàn tần thân.

Chắc hẳn rằng khi chia tay với vợ, và sau này cả người yêu nữa, ông có đau khổ, có trách họ, rằng họ đã không hiểu ông, không nuôi dưỡng hồn thơ ông, để ông cô đơn rồi đến nỗi phải chia tay. Nhưng trong sâu thẳm tâm hồn ông, ông vẫn còn yêu họ, thương họ, ông muốn có không khí ấm cúng của một gia đình, có đĩa cơm nóng hổi, đậm đà hương vị quê hương, có tô canh rau tần, đĩa mướp xào, chén tương, chén cà, đĩa rau luộc.…Ông đọc nhiều chắc ông có ao ước như Đại văn hào Nga Dostoiefski “ Tôi xin đổi tất cả văn nghiệp của tôi , để có được một người vợ, biết nấu cho ăn ngon, và biết đứng ở cửa đợi chờ tôi về, trong suốt một ngày tôi làm việc mệt “.

Vẫn còn yêu thương người nữ,vẫn nhớ đến người mang nặng đẻ đau mình, và công đức sinh thành hơn cả nước trong nguồn chảy ra nữa. Ông nhớ đến người mẹ mẫu mực nhưng lận đận một đời đã khuất, nên khi gặp Ni Sư Trí Hải, có tên đời là Công tằng tôn nữ Phùng Khánh, đẹp người, đẹp hạnh tu, trí tuệ bậc nhất trong giới tu nữ ở đất Sài thành, ông đem lòng thương kính cứ luôn gọi là mẫu thân Phùng Khánh, sau khi ông mất Ni Sư Trí Hải có giảng cho Tăng Ni Phật tử về thâm nghĩa trong thơ ca của Bùi Giáng trong nhiều buổi giảng . Thương, quý, Ni Sư Trí Hải ông thương lây qua các Ni Cô khác, nhất là các Ni Cô ở chùa Dược Sư, nơi mà ông thường lui tới nghỉ chân, được ăn cơm , được lì xì tiền tiêu vặt. Cảm nghĩa, cảm tình ông đã coi chùa Dược Sư là thơ mộng nhất, các Ni Cô là người hiền thục nhất, đẹp nhất trong giới nữ lưu. Ông đã nhớ đến họ, tâm tưởng đến họ và có lúc ông đã buồn, qua họ ông nhớ đến mẹ ông, vợ ông ngày cũ, nhớ đến người yêu dang dở chia tay. Nhớ đến thân phận của một kẻ lãng tử như mình, tứ cố vô thân, không một mái ấm gia đình. May thay vẫn còn lòng từ bi của Phật, cho ăn cho uống, không đuổi xô, hất hủi. Chính điều đó đã khiến cho ông buồn tủi, và cái buồn của ông “ Sầu lên vút tận mây ngàn tần thân “

Sống ông dạy học trường chùa, ăn cơm chùa, và khi chết ông được chùa Vĩnh Nghiêm lo tang lễ, có Sư Tăng tụng niệm nguyện cầu. Âu đó cũng là duyên phước cuối kiếp làm người của ông. Nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu, bỗng nhớ về ông trong một đêm mưa gió bời bời, viết về ông, ghi lại bốn câu thơ ân nghĩa của ông để giữ lại tinh hoa của ông để rơi rớt lại trên dặm đường lãng du, phiêu bạt,mà ông tự nhận đứng hàng thứ hai sau các Sư Cô xuất gia ở Chùa:

Đi tu thứ nhất ở chùa,
Thứ nhì ở tận cuối mùa lang thang .


Chùa Bửu Minh, Gia Lai,
Mùa Vu Lan Phật Lịch 2552-DL.2008.

Thích Giác Tâm


Thứ Năm, 7 tháng 8, 2008

QUÁN CHÁO TRẮNG CỦA GIỚI SÂN



Quán cháo trắng của Giới Sân





Lời giới thiệu


Quán cháo trắng của Giới Sân là tập sách thuộc vào hàng bestseller tại Trung Quốc hiện nay. Tác giả của nó là một “tiểu tăng” tên “Giới Sân”, mà cho đến nay, qua nhiều nỗ lực liên lạc và tìm hiểu, vẫn không ai biết đích thực chú là ai, và tên thực của chú là gì?
Nguyên vào ngày 27-4-2007, trên trang tianya.com.cn, có một thành viên nickname “Thích Giới Sân” xin đăng nhập, tự xưng rằng: “Tôi là một chú tiểu trên núi, đến để kể chuyện cho mọi người nghe”. Không đầy 10 ngày sau, lượt người vào trang blog của chú đã lên đến con số 30.000, với 6.000 câu trả lời. Tháng 6-2007, trang qq.com đã mở ra diễn đàn “Quán cháo trắng của Giới Sân”. Đến tháng 12-2007, số lượng thành viên đăng ký lên đến 40.000 người. Tính đến nay, số lượt người truy cập để đọc những bài viết này là 200.000.000 lượt - một con số kỷ lục! Hơn 100 nhà xuất bản đã đề nghị tập hợp những mẩu chuyện của chú để in thành sách, kết quả, tập sách ra đời với tiêu đề: Quán cháo trắng của Giới Sân - chú tiểu kể chuyện, tác giả Thích Giới Sân, do Nhà Xuất bản Văn nghệ Hà Nam ấn hành lần đầu vào tháng 1-2008.Quý độc giả có thể truy cập địa chỉ:
http://787129669.qzone.qq.com/ để xem nguyên văn những bài viết bằng tiếng Hoa của tác giả cùng với rất nhiều những lời bình luận của các thành viên tham gia diễn đàn.
Theo đánh giá của cư dân trên mạng thì trang web này chuyển tải những câu chuyện thiền tinh tế, ý nhị bằng tiếng Bạch thoại được nhiều người ca ngợi và truy cập nhất.Một thành viên nhận xét: “Vị tiểu hòa thượng tên Giới Sân dùng đôi mắt và tấm lòng trong sáng của mình để quan sát thế giới, để xem các việc vặt đủ loại của các thí chủ trên khắp thế gian. Hóa ra, cái mà Giới Sân giảng về thế gian này không chỉ là hai bàn tay hợp lại thành mười ngón, mà là sự khai mở, sự buông bỏ, ý thiền bât tận, Phật tâm miên man không cùng. Giới Sân đã nói: ‘nếu như muốn được ánh mặt trời chiếu rọi, thì chỉ có đứng ngay giữa đình viện mà thôi, còn cứ trốn trong góc kẹt nào đó, thì Phật cũng không còn cách nào khác’. Bình luận câu Blast Quán cháo của Giới Sân, thành viên này bình luận: “Hôm qua thì rực rỡ, hôm nay đã bị nhét vào đáy tủ áo quần, bộ y phục Tăng sĩ không hợp nhãn đó đã trải qua hàng ngàn năm cũng vẫn không thay đổi. Cũng vậy, duy chỉ có cháo gạo trắng vừa nhạt vừa không mùi vị là vật vĩnh hằng nhất trên thế gian này”. Xin giới thiệu đến độc giả loạt bài sống đạo của “Tiểu Tăng” Thích Giới Sân - mà hiện nay “chú” đã thọ Tỳ kheo giới - do Sư cô TN. Thánh Tâm, du học sinh tại Trung Quốc chuyển ngữ. Nguyệt san Giác Ngộ Lời phi lộ
Từng có nữ thí chủ đến chùa nói đùa với Giới Sân rằng: Tiểu sư phụ Giới Sân ơi, tại sao chú cứ mặc kiểu áo cũ kỹ này hoài vậy, có khi nào chú muốn may một kiểu áo mới hay không?Giới Sân cười, không đáp.Y phục đời Đường hoa lệ sặc sỡ, sắc phục đời Tống trang trọng điển nhã, đã trở thành chứng tích cho lịch sử. Những sắc phục hiện đại theo trào lưu, theo mùa của hôm qua và hôm nay đã được xếp cất vào trong đáy tủ. Chiếc áo Tăng hoại sắc, ngàn năm qua vẫn chưa thay đổi bao giờ!Những ca khúc lưu hành năm nay, biết đến năm sau còn có ai hát nữa hay không? Dưới ráng chiều, câu hò đối đáp của ông bà vẫn mãi vang vọng cho đến bây giờ và mai sau.Chiếc bánh đậu xanh ngòn ngọt, bánh trung thu hợp khẩu vị; ly cà phê, chai nước ngọt, mãi là cái điểm xuyết cho cuộc đời.Cái mãi mãi, vĩnh hằng của thế gian, chỉ có cái không mùi không vị của bát cháo trắng, của ly nước lã…
Sen và ốc sênChùa Thiên Minh chúng tôi tọa lạc trên núi Mao Sơn, bên trấn Diểu. Dưới núi không xa có cái ao sen. Khi mới vào chùa, Giới Sân thường cùng sư huynh sư đệ đến đó chơi. Trong chùa, Giới Sân thân với Giới Ngạo, hầu hết quý sư huynh cũng không lớn hơn Giới Sân bao nhiêu. Vài năm nay lại có thêm hai tiểu sư đệ Giới Si, Giới Trần. Giới Ngạo nhỏ hơn Giới Sân một tuổi nên là sư đệ của Giới Sân, nhưng hắn vào chùa từ nhỏ xíu. Sư phụ Trí Hằng phụ trách chăm sóc hắn từ bé.Chúng tôi có ba vị sư phụ, sư phụ Trí Duyên, Trí Hằng, Trí Huệ. Huynh đệ chúng tôi: tôi - Giới Sân, Giới Ngạo, Giới Si, Giới Trần…Mỗi năm vào lúc trời nóng, hoa sen lại vươn lên, mọc đầy trong ao, ở đó có tiếng kêu của ếch nhái, của ve, vì trên vùng núi, nên thời tiết có vào hạ, ban đêm không khí vẫn mát mẻ.Nước trong ao tuy có nhiều khe núi chảy xuống, vẫn phải nhờ vào nước mưa. Lúc thời tiết nắng nóng, nước trong ao khô cạn, nhưng khi trời mưa nước lại tích đầy. Nước dưới ao không sạch lắm, sanh trưởng rất nhiều sinh vật. Đến mùa, lá sen phủ đầy mặt ao, từng đóa hoa thanh nhã điểm hồng trên nền nước, mùi hương thoang thoảng theo gió của núi rừng phảng phất bay, khiến người đứng hóng mát bên ao khó quên. Dưới tán lá sen, nhiều chú cá nhỏ vẫy bơi, nhiều chú chuồn chuồn chập chờn trên lá, khi gió thổi qua, chúng nó cũng dập dờn động đậy. Đợi cọng sen lớn, tôi và Giới Ngạo đến bên ao, bỏ dép, tuột xuống lớp bùn nhão nhoẹt khiến người dễ hụt chân, nhổ cọng sen lên đem về chùa.
Sau khi thấy cọng sen nhiều, tôi và Giới Ngạo đem cọng sen đến khe suối rửa. Dù nước ao có vẩn đục đến đâu, dù cọng sen có nhiều bùn đến đâu, những cọng sen này để bên khe suối rửa một chút là có thể dùng. Lấy cái dao nhỏ cạo đi lớp da mỏng màu đục la sẽ thấy màu trắng bên trong.Dưới ao không chỉ có thực vật, mà còn có nhiều Ốc Sên sinh sống, lặng lẽ bám vào đáy ao. Ốc Sên có cái vỏ cứng bao bên ngoài và có cả cái nắp nhỏ che trước thân. So với cọng sen, xem ra Ốc Sên dễ chống lại sự xâm phạm của nước đục từ bên ngoài hơn. Nhưng có vài thí chủ bảo với chúng tôi rằng khi họ vớt Ốc Sên về, bỏ vào nước trong, chế ít dầu ăn vào nước, lúc sau, nước trong trở nên đục ngầu, vì Ốc Sên đã nhả bùn từ trong thân mình ra.Nên sư phụ nói, hoàn cảnh bên ngoài có ảnh hưởng đến sự vật, nhưng không phải là tuyệt đối. Như cọng sen trần giòn dễ gãy, ở trong bùn vẩn đục lại dễ dàng rửa sạch, còn Ốc Sên tuy có cái vỏ chắc chắn kiên cố, song bên trong dơ bẩn đến độ để trong nước sạch cũng khó tẩy rửa.Sen mãi là sen, bất luận là nơi nào cũng như vậy, không thể biến thành Ốc Sên.
Ngôi nhà của chuộtSư phụ Trí Huệ khi chưa xuất gia là một thầy giáo ngữ văn. Sau khi xuất gia, sư phụ mang đến chùa rất nhiều sách, đa số đều không phải kinh Phật. Những quyển sách đó chất đống dưới giường của tiểu. Sư phụ Trí Huệ sau khi vào chùa rất ít khi đụng đến sách này, lâu dần, quý sư phụ và các tiểu đều không nhớ sự tồn tại của nó.Đống sách này không phải là không được chiếu cố; có một vài chú chuột hiếu học làm ổ trong đó, thường lật sách đọc.Buổi sáng sớm thức dậy, chiếc vớ thêm một lỗ to tướng, có thể là do các chú chuột chưa học đến phẩm lễ nghi cắn mất rồi.Có hôm, tiểu hỏi sư phụ Trí Huệ một câu. Sư phụ suy nghĩ rất lâu, chợt nhớ trong đống sách dưới gầm giường có đáp án.Tiểu kéo miếng trải giường qua một bên, thò đầu xem dưới giường, đưa tay rờ vào đống sách, bụi đóng một lớp trên sách bay tứ tung khiến mọi người chung quanh đều hắc xì.Bên tai nghe tiếng kêu sột soạt, có hai chú chuột gầy gò, nối đuôi nhau tẩu thoát khỏi phòng, chạy ra ngoài sân.Giới Ngạo giật thót cả người, liền sau đó nói đùa: "Hai chú chuột này mà ở chùa Bảo Quang, thì không đến nỗi gầy gò như vậy".Đem từng đống sách dưới gầm giường ra phơi trước sân chùa, mấy huynh đệ chúng tôi bịt mũi, phủi bụi trần trên sách, lại bò trên đất, lật từng cuốn từng cuốn để tìm quyển sách mà sư phụ nói, cuối cùng tìm ra được, nhưng chỉ còn lại nửa quyển, nửa kia đã bị cắn nát, chắc chắn hai chú chuột gầy là thủ phạm.
Đem sách đưa cho sư phụ Trí Huệ, lật từng trang sách, đã không tìm thấy nội dung cần tìm. Giới Trần bất bình nói: "Mấy con chuột này thật quá đáng". Rồi, chợt hắn nói một cách ngây thơ: "Nêu như sư phụ giảng kinh cho nó nghe, khiến nó sửa đổi tính nết là tốt rồi".Sư phụ Trí Huệ cười: "Giáo hóa những chú chuột này chỉ có Phật Tổ mới đầy đủ pháp lực, sư phụ không đủ khả năng đó. Nhưng xét cho cùng, hai chú chuột này cũng không có chỗ nào cần giáo hóa hết".Giới Trần không hiểu: "Chuột trốn dưới gầm giường, cắn hư hết sách, tại sao không cần giáo hóa nó chứ?".Sư phụ dạy: "Trên giường là nhà của con, nhưng dưới gầm giường lại là nhà của chuột".Loài người thường cho rằng mình là nhân vật trung tâm, có quyền phán đoán sai trái, thậm chí còn cho rằng tất cả sự vật đều thuộc quyền sở hữu của mình, chưa bao giờ nghĩ rằng, vạn vật đều bình đẳng sở hữu. Nếu ai còn suy nghĩ như vậy, hãy nhớ rằng, bạn không có chút gì là đúng.
Đi dưới trời xanhSư phụ của chúng tôi nhận vài vị đệ tử tại gia, trong đó có vị gọi là Giới Yên (có nghĩa là cấm hút thuốc); pháp danh này là do người đó yêu cầu, lý do đơn giản là vị này muốn chính mình ngăn ngừa việc hút thuốc.Họ tên chỉ là để phân biệt người này với người kia, cùng một tên gọi chưa chắc chỉ một người, tên gọi không giống cũng chưa chắc là hai người.Người gọi Giới Yên, vẫn có thể ngăn ngừa tham, sân, si.Giới Yên buôn bán bất động sản ở Thượng Hải, mỗi năm anh đều đến chùa vài lần. Vài năm gần đây, mỗi lần anh ấy ghé chùa đều cười thiệt tươi.Sư phụ Trí Duyên bảo chúng tôi, đó là hiệu quả của việc tu hành, sau khi tu hành lãnh ngộ, Phật pháp thâm nhập vào tâm linh, có thể khiến người tâm tình thư thái.Ông chủ Tôn cho rằng anh Giới Yên vui như vậy vì giá đất gần đây tăng cao.Hai tiểu sư đệ Giới Trần, Giới Si trong chùa rất thích anh Giới Yên. Mỗi lần anh ấy ghé thăm chùa đều mang rất nhiều thức ăn uống, cùng đồ chơi cho hai chú. Hai chú vừa nhìn thấy anh đến, liền tranh nhau đến lục cái túi xách. Sư phụ thường quở hai chú chẳng có lễ phép gì cả, nhưng anh không hề để ý, thường nhìn hai chú cười tươi, còn nói với hai chú đồ ăn để chỗ nào trong túi xách nữa.
Anh Giới Yên thích kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện xảy ra trên thành thị, anh nói anh sống ở Thượng Hải, là thành phố rất lớn, lớn hơn Trấn Diểu gấp mười lần, huynh đệ chúng tôi không biết là thật hay giả. Con người thường phản ứng việc mình chưa biết bằng cảm giác mới lạ và nghi ngờ. Lúc đó, các sư đệ đều tập trung lại nghe anh kể, đều cảm thấy rất thích thú.Tiểu cùng các sư đệ đi qua nơi xa nhất chỉ là vài thị trấn gần bên, nhưng vẫn cảm thấy anh Giới Yên nói hơi quá. Trong các thị trấn gần đây, Trấn Diểu là lớn nhất, ở thị trấn này mà đi hết một vòng, nhanh nhất cũng hết nửa giờ đồng hồ.Thượng Hải có quá nhiều điều mới lạ, anh nói nếu có dịp sẽ dẫn chúng tôi đi, nhưng rất tiếc sư phụ chưa chắc là đã cho phep.Anh còn rất thích phong cảnh gần chùa Thiên Minh, nói sơn thủy ở đây đặc biệt khiến người động tâm, không khí trong lành, dù rằng đến mùa hè tháng Sáu, trong núi cũng rất mát mẻ, bầu trời cũng xanh trong.Lần đó, sư phụ cũng đứng một bên, nói với anh rằng, khi trở lại Thượng Hải nhớ ngẩng đầu lên nhìn, sau đó kể lại xem anh đã nhìn thấy được gì.Trải qua một thời gian, anh từ Thượng Hải điện thoại kể với chúng tôi, sau khi anh đến Thượng Hai, vâng lời sư phụ dạy, ngẩng đầu lên nhìn, mới phát hiện bầu trời ở đó cũng xanh trong.Sư phụ bảo: Mỗi người chúng ta thật ra đều đang sống dưới trời xanh, nếu bạn không cảm nhận được, là vì bạn chưa ngẩng đầu lên nhìn, chứ không phải là bầu trời không có màu xanh. (Còn tiếp)
THÁNH TÂM dịch

nguồn: giacngo online