Chùa Bửu Minh Gia Lai - Phật giáo và Thời đại

Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2011

Chùa Bửu Minh, tâm huyết một đời tu .


Tác giả: Nguyễn Phúc Nguyên


Phần, Tháp chùa Bửu Minh
Muốn cho nghệ thuật mãi mãi tồn tại trong cuộc đời này người nghệ sĩ phải sống hết mình cho nghệ thuật. Luôn khám phá tìm tòi, tư duy sáng tạo,

 Không rập khuôn, dễ dãi, không xưa bày nay làm, mà phải luôn đột phá, không đi trên con đường sáo mòn của cổ nhân. Có quyền làm hay hơn cổ nhân nhưng tuyệt đối không lập dị. Với ý tưởng đó tôi đã đi rất nhiều, đi hành hương đi du lịch tìm kiếm cái mình đang cần. Một ngày đẹp trời tôi đã tìm đến phố núi Pleiku, tìm thăm những ngôi chùa cổ, chùa nổi tiếng. Được biết có một ngôi chùa cổ cách  thành phố Pleiku 15 km, có tượng Phật nằm sơn màu lam tím mà nhiều người khen là nghệ thuật. Tâm trạng háo hức, tôi nghĩ nên tìm thăm một lần cho biết, biết đâu nghệ thuật lại ẩn tàng trong cô tịch, trong thâm sơn cùng cốc thì sao?

Đường đến chùa :

Một: Từ thành phố Pleiku đi về tỉnh Kon Tum, quốc lộ 14, về hướng bắc du khách đi đến cây số thứ 13 thì dừng lại, nơi đây có công ty chè Biển Hồ, rẽ về phía mặt trời mọc khoảng 2 km thì đã thấy tháp chùa Bửu Minh vươn lên cao như đầu chim phượng hoàng khổng lồ trong bầu trời trong xanh, có chút mây trắng vờn quanh, từ đầu thôn 02 ( trước đây thôn này gọi là xóm Trại Mộ) đi khoảng 1 km nữa thì đến chùa Bửu Minh.

Đường đến chùa BM.jpg
Đường đến chùa
Góc mái chùa Bửu Minh.jpg
 Một góc chùa Bửu Minh
Đầu đao mái chùa BM.jpgĐầu đao mái chùa
Mặt hông chùa Bửu Minh.JPG
Mặt hông chùa Bửu Minh

Hai : 
Cũng  từ Thành Phố Pleiku du khách đi về hướng Kon Tum , đến cây số mười rẽ phải, vô
đường Lê văn Sĩ vài trăm mét sẽ gặp một cây cầu bê tông, nhìn về bên phải cầu là hồ TơNưng, du khách đến Pleiku mà không ghé thăm hồ TơNưng thì cũng như chưa đến, Từ cầu bê tông nếu đi thẳng sẽ gặp một cây cầu treo, du khách không qua cầu treo, mà rẽ sang tay trái đi trên bờ đập , đi vài trăm mét sẽ gặp một hàng thông, được trồng từ thời Pháp đến vùng này thành lập đồn điền trà Biển Hồ, tuổi của hàng thông khoảng 90 năm, có lẽ trong tỉnh Gia Lai, còn lại con đường này cổ xưa và đẹp nhất, đi dưới hàng thông không khí mát rượi như đi dưới trời Đà Lạt.Từ đầu hàng thông du khách đã thấy tháp chùa Bửu Minh sừng sững vút cao, có những nhánh thông loà xoà ở tiền cảnh, trông tháp chùa như một một ngôi tháp chùa Nhật.
Trước khi tìm hiểu về ngôi chùa cổ Bửu Minh, chúng ta cũng nên biết qua một chút tiểu sử của vị Sư Trụ Trì, người đã đem hết cả tâm huyết  đời mình để trùng tu xây dựng chùa trở lại.

Một chút tiểu sử Sư Trụ Trì: 

Sư là đệ tử Hòa Thượng Thích Từ Hương, viện chủ chùa Bửu Nghiêm, thành phố Pleiku, quê quán tỉnh Bình Định, sinh trưởng tại xóm Trại Mộ, xã Biển Hồ, nhà cách chùa non cây số. Đi tu năm 14 tuổi cũng tại chùa Bửu Minh này, vắng chùa khoảng 15 năm để du phương học đạo, sau đó trở về chùa chèo chống, vượt qua những giai đoạn khó khăn nhất, để hoàn thành tâm nguyện mình là trùng tu kiến tạo lại, nơi đầu tiên mình đến tu học. Đàm đạo với Sư, tôi cố tìm hiểu nhưng Sư không nó rõ tuổi của mình, Sư nói Sư trên năm mươi, và dưới sáu mươi ( năm 2010). Sư có làm thơ, viết văn, biên tập chính cho trang nhà http://www.chuabuuminh.vn . Sư không học kiến trúc, điêu khắc chính quy, chỉ tự học, nghiên cứu ở sách vở, thư tịch và trong thực tế. Tuy vậy Sư đã có một kiến thức khá vững chải về kiến trúc, toàn bộ công trình xây dựng chánh điện chùa Bửu Minh và các pho tượng Phật lộ thiên, tượng phù điêu trong chùa là do Sư chỉ đạo, hướng dẫn phương cách cho thợ làm, bằng niềm đam mê, kỹ tính, yêu thích nghệ thuật Sư đã để lại cho chùa Bửu Minh những tác phẩm hết sức giá trị. Chúng ta sẽ tìm hiểu lần lượt các công trình, nhưng trước hết là tìm hiểu tiểu sử chùa.

hinh9.jpg
Sư Trụ Trì (năm 2000)

Một chút tiểu sử chùa:

Chùa toạ lạc tại xã Nghĩa Hưng, huyện Chưpăh, tỉnh Gia Lai. Chùa thường được gọi là chùa Biển Hồ Trà.        Chùa nguyên là “Chùa Phật học” do ông Nguyễn văn Khanh vận động thành lập và thỉnh Hoà Thượng Thích Từ Vân ở tỉnh Kon Tum xuống khai sơn vào khoảng năm 1935 -1936. Năm 1961, chùa được Phật tử địa phương xây dựng lại, mang tên “Chùa Bửu Minh”. Từ năm 2003, Sư đã tiến hành đại trùng tu. Ngôi chùa kiến trúc hiện đại, quy mô to lớn, diện tích ngôi chánh điện mới là 520m2, cao 47m25, mái chùa có dáng dấp mái nhà rông Tây nguyên.

Kiến trúc ngôi chánh điện:

Bên ngoài

Từ đầu thôn 02 ( xóm trại mộ cũ ) nhìn về chùa Bửu Minh ta chỉ thấy tháp chùa, vươn lên trời xanh, như đầu con chim phượng hoàng, đến gần mới thấy giống hơn nữa. “Chùa Byodoin (Bình Đẳng viện) được xây dựng vào năm 1053 cách Kyoto chừng 50 km, cũng có lầu phượng hoàng”. Quan sát kỹ ta thấy ba mái tháp khoảng cách cân đối, tuy mái bằng bê tông cốt thép nhưng rất mềm, mái cong mềm như mũi chiếc ghe độc mộc, cả ba mái tháp độ cong mềm giống nhau. Chùa hình chữ nhật 23m x 27m do vậy gần như hình vuông, chỉ có một đòn giông, nên mái xoè ra rất to, và mạnh, thoáng trông giống như kiến trúc chùa Nhật Bản. Chùa Nhật thường là mái xoè ra rất nhiều, dù là kiến trúc gỗ. Độ dốc mái chùa Bửu Minh 45 độ, dốc khá nhiều trông tựa mái nhà rông Tây Nguyên, kiến trúc cổ chùa Việt Nam không có kiểu này. Chùa hai gian, ba gian, năm gian, thậm chí có cả chùa trăm gian, nên thường có rất nhiều đòn giông, chia nhiều gian và nhiều đòn giông nên mái chùa nhỏ, không thấy được cái hoành tráng đồ sộ của ngôi chùa. Mái chùa Bửu Minh, bộ mái phơi ra, đứng gần vẫn thấy toàn bộ mái. Từ sáu trụ góc chính, mái chìa ra 3m, chùa Việt  ít có chùa nào đổ bê tông và đưa mái ra 3m. Trong thời gian chùa Bửu Minh thi công Hoà Thượng Thích Giác Viên, viện chủ chùa Pháp Lâm (tỉnh hội Đà Nẵng) đã đưa kỹ sư, kiến trúc sư từ Đà Nẵng vào tham quan tìm hiểu mái chùa Bửu Minh. Chính mái chùa có độ dốc như nhà rông, cọng với  sáu đầu đao góc vươn ra nhiều nên rất giống thân chim phượng hoàng.
Các đầu đao không khắc chạm nguyên con rồng như chùa Huế, mà chỉ điêu khắc đầu rồng, kiểu đầu rồng chùa Tây Phương - Hà Tây. Đầu rồng độ cong rất mềm, kế đầu rồng là cá hoá long, mô típ giống góc mái chùa Một Cột Hà Nội. Xung quanh cổ lầu Sư trang trí chữ Án Ma Ni Bát Di Hồng (chữ Phạn) nằm trong hoa sen.
Tháp vuông ba mái nằm phía sau đòn giông, mọc vút lên cao, từ xa nhìn chỉ thấy ba mái tháp, tháp và chùa cùng liên kết với nhau hài hòa.Tính từ mặt đất lên đến đỉnh tháp thờ xá lợi Phật chiều cao là 47 mét 25. Tổng thể chùa Bửu Minh hoành tráng, nhưng cân đối, được như vậy ta mới thấy sự lao nhọc, bền bỉ đeo đuổi sáu năm trời của Sư Trụ Trì đối với công trình xây dựng. Bản vẽ là ý tưởng của Sư, tìm tòi lục lạo trong nhiều tài liệu kiến trúc, trong nước, ngoài nước, tổng hợp rất nhiều tư liệu để nảy sinh ra một ý tưởng, một kiểu dáng rất lạ so với truyền thống kiến trúc cũ của chùa Việt Nam, nhưng không lập dị một chút nào. Chùa Bửu Minh không giống một ngôi chùa nào trong nước, lại càng không giống những ngôi chùa ở các nước Phật giáo Á Đông. Và tôi đã hiểu được vì sao Sư điêu khắc trong phòng khách của Sư bốn câu thơ, Sư nói Sư chỉ sưu tầm thôi, bài thơ đó là của cổ nhân:

Đời ta, ta sáng tạo,
Lập chí như núi cao.
Vạch một thiên lịch sử,
Sung sướng biết là bao.
( cổ nhân )
Toàn cảnh chùa BM.jpg
Toàn cành chùa Bửu Minh

Bên trong

Khi đi tham quan các chùa miền Bắc, Sư thấy thờ quá nhiều tượng, nên không gian nội điện đã choán rất nhiều diện tích, vài chục người tham dự lễ đã thấy chật chội. Nội điện chùa Bửu Minh Sư không thờ nhiều: Gian chính thờ tượng Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, bằng đá cẩm thạch trắng cao hơn 3m, phía trước và thấp hơn là tượng Bồ Tát Quan Thế Âm, phục chế lại từ nguyên mẫu tượng Bồ Tát chùa Bút Tháp - Bắc Ninh, bằng gỗ mít, cao gần 3m. Pho tượng này làm tại làng Sơn Đồng - Hà Tây. Sư đã đi ra Hà Tây nhiều lần để trò chuyện, động viên thợ điêu khắc, tóm lại nói theo cách nói của Sư là thổi hồn cho tượng. Hai gian bên tả hữu là thờ tượng Bồ Tát Địa Tạng, Bồ Tát Quan Âm bằng gỗ mít, một tượng làm tại làng Sơn Đồng, một tượng làm tại làng Võ Lăng (Hà Tây) chiều cao mỗi tượng cao gần 4m. Hai phía bên vách trước tượng Bồ Tát Quan Âm, Bồ Tát Địa Tạng là hai pho tượng Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Phổ Hiền điêu khắc nổi bằng xi măng, cốt thép, làm theo kiểu âm tường nên không chiếm diện tích xử dụng. Phía trước tiền sảnh Sư cho điêu khắc nổi tượng Hộ Pháp, tượng Tiêu Diện Đại Sĩ. Không hiểu Sư đã tìm mẫu tượng Tiêu Diện Đại Sĩ ở đâu, từ đâu, mà không giống tượng Đại Sĩ nào trong nước. Trông rất oai vệ như một võ tướng, na ná giống tượng Thiên Vương của các chùa Nhật Bản. Hai pho tượng Tiêu Diện Đại Sĩ và Hộ Pháp, Sư thiết kế ban thờ ép sát vô nên vẫn không chiếm diện tích sử dụng.
Màu sắc Sư sử dụng để sơn trụ cột, kèo, xiên, trính, đều sơn bằng màu nâu, màu gỗ, tường màu  ruốc nhạt nên trông chùa sáng, không u tịch. Những bức hoành phi, bao lam,cửa võng, rồng ngậm bảo cái che trên đầu Phật, phù điêu chạm trổ…. sơn màu truyền thống theo chùa miền bắc là màu đỏ sẫm, màu vàng. Màu sắc Sư dùng bên trong chánh điện không loè loẹt, sặc sỡ, nên khách thập phương có cảm giác ấm cúng.
Điểm rất lạ, rất khác là bên trong nội điện, sau lưng pho tượng Đức Thế Tôn là một con rồng, thân uốn lượn trong tư thế rất duyên, đắp nổi trong tường, rồng ngẩng cao đầu, hả miệng ngậm bảo cái che trên đầu Phật, bảo cái hình lục giác, hai mái, điêu khắc bằng xi măng, có sắt thép nhỏ bên trong, bảo cái thực hiện rất kỳ công, tỷ mỷ từng chút một, thoáng trông giống như bằng gỗ. Đây là một ý tưởng rất lạ, treo bảo cái trên đầu Phật, đây đó chúng ta có thấy, còn để rồng ngậm bảo cái có lẽ xưa nay chưa ai thực hiện. Trần dưới của từng tháp thứ nhất Sư điêu khắc một Mạn Đà La Tây Tạng, có chữ Án Ma Ni Bát Di Hồng.
Sư có nói: “Chánh điện mà thờ phượng không đúng cách, sẽ không có sự linh thiêng. Thờ phượng trang trí, xử dụng màu sắc, ánh sáng trong nội điện phải có sự nghiên cứu. Phải cẩn trọng khi bắt hào quang, thắp sáng, vị trí của từng pho tượng, nếu đúng cách, thập phương phật tử lễ bái, chiêm ngưỡng sẽ tập trung tinh thần, lời cầu nguyện  sẽ được giao cảm”. Nghe sư giảng giải, tôi mới ngộ ra, thật là tử công phu khi xây dựng một ngôi chùa theo cung cách  của Sư.

Nội Điện.jpg
Đại Hùng Bảo Điện

Kim Thân Phật Tổ:

Pho tượng Kim Thân Phật Tổ lộ thiên tại chùa Bửu Minh được Sư và anh Bảy Cảo thực hiện trong thời bao cấp. Sư đã lấy mẫu từ hai pho tượng Phật lộ thiên đẹp nhất của đất nước về tham khảo, đó là Kim Thân Phật Tổ ở Vũng Tàu, và Kim Thân Phật Tổ ở đồi Trại Thuỷ Nha Trang. Pho tượng rất hoàn chỉnh cân đối, gương mặt Phật không khác bao nhiêu so với gương mặt Phật lộ thiên ở Vũng Tàu, điểm đáng chú ý của pho tượng này là gương mặt Phật rất có hồn, có thần. Sư kể lại thời gian thi công pho tượng này Sư đã luôn căn dặn nhắc nhở người thợ ăn chay nằm đất suốt bốn tháng, ngày đêm luôn nghĩ tưởng đến Phật. Phật lộ thiên nhưng rất tiếc hơi nhỏ. tượng chỉ cao 5m, tính cả toà sen. Toà sen Phật lộ thiên tại chùa Bửu Minh cánh sen nở ra mềm mại, chứ không ép sát vào đài như ở tượng Kim Thân Phật Tổ Vũng Tàu.

IMG_1271.jpg
Kim Thân Phật Tổ chùa Bửu Minh

Tượng Phật nằm:

Tượng Phật nằm chùa Bửu Minh thực hiện năm 2006, pho tượng có chiều dài 11 mét, bằng bê tông cốt thép, do Sư cùng với anh Bảy Cảo điêu khắc ( người thợ đã cùng Sư thực hiện pho tượng Kim Thân Phật Tổ, trong thời kỳ bao cấp). Sư kể lại rằng: “Muốn làm một việc gì, Sư có ý tưởng trước đó nhiều năm, nhìn lại Phật giáo tỉnh nhà chưa có pho tượng Phật nằm nào, nên Sư đã có ý định thực hiện, và trước hết là tìm tư liệu, đi đâu mà gặp được mẫu tượng Phật nằm ưng ý thì Sư thỉnh về, Sư đã có bốn mẫu tượng Phật nằm thỉnh ở các nơi về. Mẫu tượng nào cũng có ưu điểm khuyết điểm và Sư đã tổng hợp cái đẹp từ bốn tượng nhỏ để đắp, điêu khắc lên tượng Phật lớn”. Sư nhắp một ngụm trà rồi tiếp: “Khi làm tượng Phật tôi luôn thổi hồn cho tượng, bằng cách luôn nói về nhân cách của Đức Phật, từ bi, trí tuệ của Phật, vai trò văn hoá nghệ thuật của Phật giáo đóng góp cho nhân loại, cho thế giới. Để cho người thợ, người nghệ nhân nghe, luôn tạo niềm vui cho họ, bằng những tách nước trà ngon, miếng bánh ngon. Không bao giờ chiều ý họ, để họ ăn nhậu trong khi làm tượng. Bởi tâm tịnh thị pho tượng sẽ tịnh, tâm nhiễm ô thì pho tượng sẽ nhiễm ô. Đây đó có những pho tượng lộ thiên mà gương mặt Phật lại na na giống như người làm tượng, bởi vì người làm tượng đã không ăn chay, không thanh tịnh tâm trong thời gian thực hiện. Đừng bao giờ khoán trắng việc làm tượng cho người thợ, người nghệ nhân. Người Trụ Trì, người chủ chùa phải luôn sát cánh với thợ, ân cần nhắc nhở, bổ sung ý tưởng, hiểu biết của mình về Phật học, thổi hồn cho tượng, thổi thần cho tượng. Nghi lễ yểm tâm, hô thần nhập tượng có ý nghĩa và linh hiển với điều kiện là thời gian thi công, điêu khắc, người nghệ nhân phải tịnh tâm thanh tịnh tuyệt đối.  Không như thế, nghi lễ yểm tâm cũng chỉ cho có thôi, tượng không dễ gì linh hiển.”
Bằng cách làm như thế pho tượng Phật nằm tại chùa Bửu Minh, dáng Phật nằm thanh thản, vô sự, vô ưu, nếp y, nếp áo, mềm mại như lụa ở Bombay, Ấn Độ. Phật đi, Phật đứng, Phật nằm, Phật ngồi đều toả chiếu nghệ thuật, Phật nằm Bửu Minh cũng nghiêng trời nghệ thuật. Mặt Đức Phật thật hiền, biểu hiện được hảo tướng của Phật, đôi mắt Phật long lanh sống và thật có hồn, từng lọn tóc xoay về bên hữu, lọn nhỏ lọn to đan xen vào nhau hợp lý, với nhục kế trên đầu cân đối, khiến cho đầu Phật đẹp như tranh vẽ.
Tôi có hỏi Sư: “Sao Sư sơn Đức Phật bằng màu lam tím ?” Sư cười trả lời: “Thân Phật là thân kim sắc, trí Phật là trí hoàng kim, sao tôi sơn Phật bằng màu này đuợc, đây chỉ là màu sơn lót thôi, tôi có mong ước làm một mái che cho Phật, thuận duyên làm xong rồi thì sẽ sơn Phật lại màu vàng của Thái Lan hoặc thếp vàng”.

Phật nằm chùa BM.jpg
Tượng Đức Phật Thích Ca  nằm

Tượng Bồ Tát Quan Âm lộ thiên

Khi đau khổ, phiền não thì ta nghĩ đến vị Bồ Tát cứu khổ Quan Thế Âm, chùa Bửu Minh sau năm1975 đến 1985 vô cùng gian khổ khó khăn, Sư tưởng chừng như bế tắc, một lần đến chùa Giác Hải, Phú Lâm - Sài Gòn Sư ao ước làm sao có được một tượng Bồ Tát Quan Thế Âm lộ thiên để tôn thờ, Sư ngỏ ý với chị Cúc, cơ sở Lê Văn Chánh, chị nói Thầy viết một bức tâm thư vào vở con đi, con sẽ giới thiệu người cúng. Ba tháng sau chị nhắn vô thỉnh tượng về. Năm đó tỉnh Gia Lai chưa hề có tượng Bồ Tát Quan Thế Âm lộ thiên nào, cho nên khi chùa Bửu Minh dựng tượng là một sự kiện trọng đại, ngày khánh thành thập phương phật tử tham dự rất đông.
Khi mới tôn tạo pho tượng Bồ Tát nằm ở vị trí khác, năm 2003 di dời qua vị trí khác để có đất xây dựng ngôi chánh điện, pho tượng Bồ Tát Quan Thế Âm hiện nay là ở vị trí mới. Diện tích chùa quá hẹp nên sư không biết phải tôn trí tượng Bồ Tát ở đâu, đành đặt ở vị trí trước Sơn Hải Miếu, mặt ngó vào chánh điện. Ở một vị trí rất hẹp, không nghĩ ra cách nào hay hơn, Sư đã cho thợ làm một bình Tịnh Thủy thật to cao khoảng 10m, đứng sau lưng Bồ Tát, trong bình cắm năm cành sen, một bông nở, một bông búp, một đài sen, một lá sen cuốn, một lá sen to che trên đầu Bồ Tát, tôn trí kiểu này ít tiền nhưng rất lạ, dường như cả nước cũng chưa có nơi nào làm kiểu này. Pho tượng Bồ Tát không có giá trị nghệ thuật, vì được đúc ra từ khuôn, nhưng với Sư là một kỷ niệm, khi tôn trí tượng Bồ Tát lộ thiên không tốn bao nhiêu tiền bạc, vậy mà kéo dài hơn một năm, ban ngày coi thợ làm (chỉ có một thợ già cụt một cánh tay, làm một tay) ban đêm cỡi xe đạp đi quyên góp. Trong thời gian thi công trên bầu trời thường xuất hiện đám mây ngũ sắc. Có một kỷ niệm Sư còn nhớ mãi, thợ thèm một điếu thuốc Đà Lạt vẫn không có tiền mua cho thợ hút, bỗng có một em Phật tử đem đến chùa 50.000 đồng, em nói: “ Tiền này là tiền con bỏ hủ hòn binh (con heo đất), con mới đập ra đem cúng cho Thầy, để Thầy mua xì dầu cho thợ ăn”. Cảm động sư đã làm một bài thơ:

Một chút tình thôi để tặng đời,
Để vầng mây bạc ngập ngừng trôi.
Để tà áo mẹ bay trong nắng,
Mát dịu lòng ai cõi luân hồi.

Nắng sớm mưa chiều mẹ đứng đây,
Chờ em mẹ ngóng mãi trời tây.
Em còn giong ruỗi, còn giong ruỗi,
Ở cuối chân trời em có hay !?

Mẹ của muôn đời mẹ của ta,
Mắt thương nhìn suốt cõi bao la.
Lắng nghe tiếng thét ngàn xa vọng,
Hóa thân mẹ đến đời nở hoa.
Bồ Tát Quan Âm lộ thiên.jpg
Tượng Bồ Tát Quan Thế Âm

Nhà Thờ Tổ

Yêu thích văn thơ từ nhỏ, một buổi sáng cách đây mấy mươi năm, vô nhà sách Kim Linh ở phố núi Pleiku, tình cờ Sư mua được cuốn sách Tình người của tác giả Tâm Quán, đọc xong cuốn sách, Sư đã chọn cho mình một hướng đi, hướng đi viết lách. Sư yêu mến Thiền Sư Tâm Quán vô cùng, nên khi trùng tu nhà thờ Tổ chùa Bửu Minh, trong thâm tâm là báo đáp ơn đức của Tổ Thầy , và gần nhất là Thiền Sư Tâm Quán, Sư đã được khai tâm, mở trí  từ những cuốn sách của Thiền Sư Tâm Quán.
Ngôi nhà Tổ được trùng tu lại năm 1996 diện tích  hơn 100 m2 bằng bê tông, cốt thép, mái lợp ngói Phú Phong, do một nhóm thợ từ Quảng Nam vào làm. Ngày hoàn thành thập phương Phật tử rất vui, và khen là một tác phẩm kiến trúc đẹp ( nay thì thấy bình thường, vì đã có những ngôi nhà Tổ khác kiến tạo đẹp hơn )
Nhà thờ Tổ chùa BM.jpg
Nhà thờ Tổ (bên ngoài)
IMG_4786.jpg
Nhà thờ Tổ (bên trong)

Sơn Hải Miếu

Sơn Hải Miếu, thập phương Phật tử thường gọi là Am Bà, có mặt bên cạnh chùa Bửu Minh khoảng  1930 - 1932, xây rất nhỏ bên cạnh  một cây đa, diện tích 16 m2 .Trong Am có một bức hoành phi đại tự : Niệm tại tư, lạc khoản đề Bảo Đại Bính Tý niên. và có hai bộ liễn đối, lạc khoản đều ghi Hoàng triều Bảo Đại Bính Tý thu - 1936 .
Nhưng quý nhất cho giới khảo cổ là pho tượng  thánh mẫu trông giống Bồ Tát Quan Thế Âm, mà cũng giống Thánh Mẫu Thiên Y Na Na, của vương quốc chămpa xưa.Tượng cao 30 cm, bằng đá sa thạch. Theo tư liệu do Sư Trụ Trì cung cấp: “người Pháp đến vùng này khai hoang lập đồn điền, vào năm 1923, trong thời gian khai hoang, công nhân làm cho chủ Pháp có đào được một pho tượng bằng đá sa thạch. Rừng thiêng nước độc, sơn lam chướng khí nên công nhân chết rất nhiều, bởi vậy khi đào được pho tượng họ rất tin tưởng, xin chủ Pháp lập một am miếu nhỏ bên cạnh một cây đa cổ thụ (vị trí hiện nay) để xuân kỳ thu tế, cúng kính lễ bái cầu nguyện. Từ niềm tin ban đầu như vậy, dần dần quy tụ lại với nhau đông đảo, lại xin chủ Pháp một lần nữa, cất lên chùa Bửu Minh (vào khoảng năm 1935 -1936). Am Bà hiện nay mới xây dựng lại với kiến trúc rất đặc thù, mái đổ bê tông, các đầu đao mái làm giống như các ngôi chùa cổ miền Bắc, do Sư Trụ Trì hướng  dẫn thợ thực hiện năm 2008. Hơn bảy mươi năm trôi qua, niềm tin thuở ban đầu vẫn còn tiếp tục, Am Bà luôn đông đảo khách thập phương đến lễ bái. Am Bà cũ có hai câu đối: “Sơn bất tại cao hữu Tiên tắc linh.Hải bất tại thâm hữu Long tắc linh”.
 Tạm dịch: “Không phải tại núi cao, nhưng bởi do có Tiên nên núi mới linh. Không phải tại Biển sâu, nhưng bởi do có rồng nên biển mới linh”.

Phần mái Sơn Hải Miếu.JPG
Phần mái Sơn Hải Miếu
IMG_4900.jpg
Sơn Hải Miếu

Cổng Tam Quan ( Đang khởi công xây dựng )

Vị trí Chùa :

Chùa Bửu Minh cách trung tâm thành phố Pleiku 15 km, về hướng Bắc. Chùa toạ lạc tại thôn 01, xã Nghĩa Hưng, Huyện Chưpăh, Tỉnh Gia lai (trước năm 1975, thuộc xã Biển Hồ, thành phố Pleiku). Trong ký ức của những bà con đã từng sinh sống ở Pleiku, phần đông đều biết đến chùa Biển Hồ trà (tên gọi của chùa Bửu Minh trong thời gian ấy). Bởi cuối tuần khu vực chùa Bửu Minh, Biển Hồ trà là nơi lý tưởng để picnic, để dã ngoại. Gần hồ TơNưng, có cánh đồng trà hơn 600 hec ta, có hàng thông mát rượi, đi dưới hàng thông không khác gì đang đi chơi ở Đà Lạt.
Chùa quay mặt về hướng Tây, lưng chùa tựa vào núi Tiên Sơn, làm Tổ Sơn, phía tay trái chùa có dòng sông chảy bọc về Biển Hồ TơNưng, trông tựa như rồng xanh (có phải là thanh long ?). Phía bên tay phải chùa là dãy núi nằm bọc chãi về phía trước (có phải đó là Bạch Hổ ?) . Trước mặt chùa là Biển Hồ TơNưng, bốn mùa nước xanh biêng biếc, trong veo, là nguồn nước uống cho cư dân thành phố Pleiku (có phải là Minh Đường ?). Có phải thiên nhiên đã un đúc, đã kết tụ lại linh khí cho cuộc đất này không, mà rất nhiều nhân tài tuấn kiệt đã sinh trưởng từ nơi vùng đất Biển Hồ này (không tiện nêu tên vì những ngưòi sinh trưởng nơi đây, thành đạt, hiện còn sống). Địa linh sinh nhân kiệt, đó là niềm mong ước lớn nhất của dân tộc.

Pháp Khí quý giá tại chùa: 

Chùa Bửu Minh có hai quả Đại Hồng Chung, một quả nặng 300 ký do Hoà Thượng Bổn Sư Thích Từ Hương chú tạo năm 1966 (âm thanh rất hay). Còn một quả chuông mới chú tạo năm 2009, tại lò đúc Nguyễn văn Sở nặng 900 ký, do gia đình đạo hữu Trần Kỳ - Nguyễn thị Phượng ở phường Thống Nhất, thành phố Pleiku, cúng dường.
Nguồn gỗ ở Việt Nam đã cạn kiệt, do vậy một số chùa trùng tu rất lớn ở Việt Nam, muốn làm cửa gỗ đã không thực hiện đuợc, vì giá quá đắc.  Chùa Bửu Minh, duyên may đã được gia đình đạo hữu Pháp danh: Nhuận Hải – Quảng Quế hiến cúng toàn bộ cửa, gỗ đặt mua từ nước bạn Lào, đóng thành phẩm tại Lào chở về. Gỗ trâm xe khai thác từ rừng già nên vô cùng quý hiếm.

DSC_8111.JPG
Đại Hồng Chung HT. Thích Từ Hương chú tạo năm 1966
IMG_4431.jpg
Đại Hồng Chung gia đình Phật Tử Trần Kỳ, PD Nhật Bích -
Cao thị Phượng , PD Đồng Hoàng phụng cúng năm 2009
IMG_4918.jpg
Toàn bộ cửa Chánh Điện gia đình PT: Nhuận Hải; Quảng Quế phụng cúng

Các đời Trụ Trì, và các vị hương đăng qua từng thời kỳ .  
  

 -  Đạo hữu Nguyễn văn Tròn 

Pháp Danh: Đồng Thiệt Quê quán: Bình Định Sinh năm: 1894 Tử ngày: 20.03 năm Canh Tuất (1970) tại chùa Bửu Minh. Hương đăng tại chùa Phật Học, tiền thân chùa Bửu Minh từ năm 1938 – 1947, tiếp tục làm hương đăng tại chùa Bửu Minh từ năm 1962 – 1963. 

- Thầy Hai Đẩu 

 Hương đăng từ năm 1956 – 1961  Tên thật là: Nguyễn văn Chẩn  Quê quán: An khê, Bình Định   Sinh năm: ……  Tử ngày: 08.11 âm lịch ( năm……)                           

   - Hòa Thượng Thích Từ Hương 

Pháp Danh: Nhật Sanh Sinh năm 1929 (Kỷ Tỵ) Quê quán: Mỹ Phong - Phù Mỹ - Bình Định.
Đời pháp thứ 40 theo kệ phái “Tổ Định - Tuyết Phong” là đệ tử của Hoà Thượng Thích Đỗng Quang, chùa Quan Âm,Trà Bá, Pleiku. Trụ Trì chùa Bửu Minh 2 lần : Lần thứ nhất: Từ năm 1964 đến năm 1966 Lần thứ hai:  Từ năm 1970 đến năm 1977. Hòa Thượng là vị Tăng sĩ người Bình Định có mặt rất sớm ở Tỉnh Pleiku - Gia Lai. Qua hai lần Trụ Trì Chùa Bửu Minh 10 năm, Hòa Thượng đã thỉnh cho chùa một  Đại Hồng Chung, nặng 300 kg, vào tháng 9 năm Bính Ngọ 1966. Trong những năm tháng Trụ Trì chùa Bửu Minh, Hòa Thượng đã Quy y và hướng dẫn tu học cho một số đông Phật Tử. Hòa Thượng là một Tăng Sĩ  luôn luôn sống vì giáo hội, và cho giáo hội. Hiện là Viện Chủ chùa Bửu Nghiêm TP. Pleiku. Trưởng ban trị sự Phật Giáo Tỉnh Gia Lai.

 - Thầy Thích Thiện Tín 


Trụ trì từ năm 1967 đến năm 1968 Quê quán: Bình Định Sinh năm: 1936 (Bính Tý)  Pháp hiệu: (……..) là đời pháp thứ (……..)  theo kệ phái của Tổ Sư “ Đạo Mân - Mộc Trần” Trong thời gian trụ trì Chùa Bửu Minh 1967-1968, Thầy có xây thêm một ngôi nhà Tổ bằng gạch táp lô bộng, mái lợp tole. Hiện ở tại Tỉnh Đaklak .

 - Thầy Thích Tịnh Viên  

Trụ trì khoảng 7- 8  tháng, trong năm 1969 )  Quê quán  : Bình Định Sinh Năm  :  1932  (Nhâm Thân)      Hiện ở tại Quận Bình Thạnh, Thành Phố Hồ Chí Minh. 

- Thượng Toạ Thích Đồng Trí 

Trụ trì từ năm 1978 đến năm 1989 Sinh Năm: 1949 (Kỷ Sửu) Quê quán: Mỹ Lộc - Phù Mỹ - Bình Định   Tự là:  Giác Tuệ  Đời Pháp thứ 43 theo kệ phái “Minh Hải - Pháp Bảo”. Là đệ tử của Thượng Toạ Thích Từ Huệ, Chùa Thiền Tôn,  Mỹ Lộc - Phù Mỹ - Bình Định. Y chỉ làm đệ tử Hòa Thượng Thích Từ Hương từ nhỏ. Trụ Trì Chùa Bửu Minh từ năm 1978 đến năm 1989. Bằng đức tính điềm đạm, nhu thuận,Thượng Toạ đã lèo lái, duy trì ngôi chùa qua giai đoạn khó khăn nhất về vật chất lẫn tinh thần. Hiện Trụ Trì chùa Hồng Từ (Tỉnh Hội Phật Giáo Kon Tum) . Trưởng ban trị sự  Phật Giáo Tỉnh Kon Tum

- Thầy Thích Giác Tâm

 Pháp Danh: Quang Đức, đời pháp thứ 41, kệ phái “ Tổ Định - Tuyết Phong”. Là đệ tử lớn của Hòa Thượng Thích Từ Hương chùa Bửu Nghiêm TP. Pleiku. Quê quán: Cát Tường - Phù Cát - Bình Định Nơi Sinh: Xóm Trại Mộ xã Biển Hồ - Pleiku. (Nay thuộc thôn 2 xã Nghĩa Hưng - Huyện Chưpăh) . Xuất gia năm: 1969 tại Chùa Bửu Minh, tu học các nơi khác 15 năm. Sau năm 1975 về lại Chùa Bửu Minh. Chính thức Trụ Trì từ năm 1989 đến nay. Hơn 20 năm Trụ Trì chùa Bửu Minh Thầy đã đem hết tâm lực, trùng tu, kiến thiết  mới  toàn bộ các công trình.

Cảm nhận về chùa Bửu Minh

Làm một ngôi chùa, ngôi tháp đẹp đã khó, làm cho nó có hồn lại càng khó hơn. Muốn làm đẹp, có tiền và cố gắng có thể thực hiện được, còn làm cho có hồn không dễ dàng chút nào. Đi vòng quanh các nước Phật giáo, ta có bắt gặp những ngôi chùa được gọi là linh thiêng, vì đâu được linh thiêng.
Thứ nhất: Vị Sư Trụ Trì ở đó phải giới  hạnh tinh nghiêm, vừa tu tập vừa hướng dẫn quần chúng tu tập, tạo nên một  năng lượng cộng đồng.
Thứ hai: Khi thi công chùa, đã đem trọn tâm tình hiến dâng, ngày đêm chỉ nghĩ tưởng làm nhà Như Lai, để thờ Như Lai, và để cho quần chúng lui tới lễ bái tu học. Tiền Tam Bảo chỉ xử dụng cho Tam Bảo không rơi rớt vào những mục đích khác. Và thêm nữa vị Sư Trụ Trì phải biết nhiều ngành nghệ thuật để khi thi công, điều phối, hướng dẫn thợ, được như vậy ngôi chùa sẽ đẹp, sẽ linh thiêng.
Tôi đam mê nghệ thuật, tôi đang đi tìm cái mình đang cần, có chút duyên nơi cửa Phật Bửu Minh, tôi viết vài dòng tiểu sử, với một chút cảm nhận tự đáy lòng, và được Sư Trụ Trì đọc lại, xin phép Sư Trụ Trì tôi kết bài viết về chùa Bửu Minh, bằng bài thơ của Sư, Sư đây là Sư Thích Giác Tâm, hiện Trụ Trì chùa:

Bửu Minh chốn cũ đi về ,
Ngàn khơi gió lộng, bốn bề trà xanh.
Cây đa rợp bóng thiên thanh,
Cho con tịnh lạc an lành đi lên.
Về đây con có mẹ hiền,
Đưa con qua tận suối miền uyên nguyên.
Con về lội khắp sơn xuyên,
Trồng hoa trên đá an nhiên ngắm nhìn.
Con về còn trọn niềm tin,
Câu Kinh Không Sắc xoá nghìn thương đau.
Về đây sương trắng mái đầu,
Chợt nghe chim hót nhiệm mầu tử sinh.
Tranh vẽ tại chùa Bửu Minh.jpg
Chuyển Pháp Luân ( tranh vẽ lưu trữ tại chùa)
cầu chùa BM.jpg
Cầu cảnh, lối vô cổng phụ chùa
Rồng cấp chánh điện.jpg
Rồng chầu, lối lên Chánh Điện
DSC_8109.JPG
Rồng cửa Chánh Điện
DSC_8110.JPG
Phù Điêu Sư Tử trụ đá Vua Asoka
Hoành phi Phật Giáo Việt Nam.JPG
Hoành phi: Phật Giáo Việt Nam
DSC_8144.JPG
Hoành phi: Đại Hùng Bảo Điện
IMG_4911.jpg
Bảng hiệu Chùa
IMG_4380.jpg
Rồng phù điêu
DSC_8112a.JPG
Rồng phù điêu
IMG_4908.jpg
Đèn đá
Đầu đao mái chùa.JPG
Đèn đá
Lễ Hội.jpg
Lễ Hội

Phố Núi, Mạnh Xuân Canh Dần (2010)

Nguyễn Phúc Nguyên

( Tư liệu tiểu sử chùa Bửu Minh do Sư Thích Giác Tâm cung cấp )

Xem thêm: Chùa Bửu Minh khi chưa trùng tu

Thứ Năm, 7 tháng 7, 2011

Chùa Bửu Minh – Gia Lai



Võ Văn Tường
Chùa toạ lạc tại xã Nghĩa Hưng, huyện Chưpăh, tỉnh Gia Lai. Chùa thường được gọi là chùa Biển Hồ Trà, chùa Phật nằm. Chùa nguyên là “Chùa Phật học” do ông Nguyễn văn Khanh vận động thành lập và thỉnh Hoà Thượng Thích Từ Vân ở tỉnh Kon Tum xuống khai sơn vào khoảng năm 1935 -1936. Năm 1961, chùa được Phật tử địa phương xây dựng lại, mang tên “Chùa Bửu Minh”. Từ năm 2003, Thầy Thích Giác Tâm trụ trì Chùa; đã tiến hành đại trùng tu. Ngôi chùa kiến trúc hiện đại, quy mô to lớn, diện tích ngôi chánh điện mới là 520m2, cao 47m25, mái chùa có dáng dấp mái nhà rông Tây nguyên.
Điện thoại: 0905.146835
Email: thichgiactam@gmail.com
http://chuabuuminh.vn/

DSC_7679.jpg
DSC_7661+.jpg
112B.01+ (1).jpg
Dien Phat Chu Buu Minh (1) (1).jpg
DSC_7603.jpg

DSC_7630 (1).jpg
PQA 1.jpg
112B.04.jpg
112B.05.jpg
112B.06 (1).jpg
112B.07 (1).jpg
112B.08 (1).jpg
Bài: Tư liệu chùa
Ảnh: Nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ Văn Tường

Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2011

Phật giáo trước cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới




Đây là câu chuyện mà thế giới sẽ bàn, tiếp theo câu chuyện nổ dàn khoan dầu ở Mỹ và mới đây nổ nhà máy điện hạt nhân ở Nhật.

Nhu cầu năng lượng thế giới ngày càng tăng do những quan niệm kinh tế hiện đại kích thích người ta tiêu dùng càng nhiều. Có kích cầu, có tăng sức mua, có sớm vứt đồ cũ bỏ tiền ra tậu đồ mới, thì kinh tế mới phát triển.

Điều này rõ ràng là trái quan niệm của đạo Phật là kiềm muốn, hạn chế dục lạc, là thiểu dục, là tri túc, là an bần lạc đạo…

Vì thế có những người đi cải đạo lợi dụng điều đó, thuyết giáo rằng đạo Phật là đạo của … nhà nghèo (!), còn theo đạo của họ là đạo làm giàu. Ở đó, người ta được khuyên là cứ hưởng thụ thỏa thích, tất nhiên là không quên cảm tạ thượng đế đã ban cho…

Vì vậy, ở nhiều nước, ngân hàng cho mọi người mượn tiền để xài. Áo chưa cũ nhưng chỉ không vừa ý đã cho vào thùng rác (chứ không làm nùi giẻ), điện thoại vài ba tuần đổi theo mốt một lần.

Người giàu xài tiền của theo kiểu người giàu. Người nghèo xài theo kiểu người nghèo. Quan điểm của đạo Phật như đã nói ở trên trở nên lạc hậu đối với số không ít người.

Người giàu lại càng không tán thành thiểu dục. Có tiền không xài thì để làm gì?

Nhưng bụi phóng xạ cũng như thảm họa dầu tràn không trừ một ai. Ở Nhật, giàu cách mấy thì bụi phóng xạ cũng không tha. Ai nấy đều sợ hãi sau tai nạn hạt nhân và chính phủ phải đóng cửa hàng loạt nhà máy điện.

Hồi tiếp theo là cả thế giới rung động. Nhiều kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân đã bị đình chỉ. Nhiều nhà máy điện hạt nhân chắc chắn đóng cửa sau đợt kiểm tra dưới áp lực của sự sợ hãi.

Không dùng điện hạt nhân thì quay lại dùng điện chạy bằng dầu khí? Nhưng bài học nổ dàn khoan dầu ở nước Mỹ vẫn làm cho người ta chưa hết bàng hoàng, cái thòng lọng khủng hoảng năng lượng đang thít lại dần dần quanh con người.

Hai thách thức hàng đầu của Mỹ và Nhật sau thế chiến thứ hai, theo đánh giá của chính tổng thổng Mỹ và thủ tướng Nhật, là hai thảm kịch do chính nhu cầu của con người gây ra.

Trở lại dùng điện chạy bằng than đá?

Thảm họa biến đổi khí hậu, hâm nóng toàn cầu từ khí CO do đốt than đá cũng là một thứ thòng lọng khác, mà ai cũng biết là việc chết dần của hành tinh.

Con người bế tắc?

Cách sống kích cầu đã hình thành những sợi dây thòng lọng thít lại quanh mình. Cái cảm hứng ở Nhật khi có nhiều người đi làm bằng máy bay riêng, cái cảm hứng của người Việt khi vứt bỏ xe đạp, xe đạp máy (như Mô-by-lết), để dùng Cub, Dream, rồi bỏ cả Dream lên Dylan, @, rồi lên đến Camry, Ford Everest… sẽ còn không trước cơn khủng hoảng năng lượng sắp tới?

Khủng hoảng năng lượng không chỉ là nổ dàn khoan dầu, nổ nhà máy điện hạt nhân, mà là nguy cơ bắn giết nhau để tranh giành từng thùng dầu, để thỏa cơn khát vàng đen phục vụ tiêu xài.

Người ta đã chuẩn bị hải quân để hộ tống tàu dầu, đã tranh cãi liên tục và đã thường xuyên va chạm do những vùng biển mà mọi người nghĩ là dầu và khí rất nhiều ở dưới, cũng như trên mặt là đường hàng hải năng lượng.

Chiến tranh thì có kẻ thắng người bại. Nhưng nổ nhà máy điện hạt nhân chẳng hạn thì các nước trong khu vực và thậm chí cả những nước cách xa nửa vòng trái đất cũng là kẻ chiến bại vì bụi phóng xạ có thể bám trên thân máy bay, trên vỏ tàu, len vào công-ten-nơ, thấm vào thực phẩm đi khắp toàn cầu.

Con người trong niềm kiêu hãnh của mình đã đi đến chỗ không chốn nương thân trên hành tinh nhiễm độc và bốc cháy, sẽ suy nghĩ gì về đạo làm giàu, đạo tiêu xài, so với đạo thiểu dục, đạo an bần, đạo tri túc.

Chính lúc này là lúc mà chúng ta đem ra so sánh những quan niệm khác nhau đó, rồi chiêm nghiệm lời Phật về tư duy xa rời dục lạc, giải phóng khỏi lòng tham và sự mê muội.

Không tham cầu không chạy theo vật dục như lời Phật dạy ắt con người dần dần đặt được gánh nặng khủng hoảng năng lượng xuống, đưa nhân loại ra khỏi hiểm họa chiến tranh giành giựt dầu hỏa, đổ máu để có dầu, có điện mà xài.

Mong rằng bài viết này sẽ cung cấp những suy nghĩ, những tư liệu để những người con Phật có thể chia sẻ với thân hữu quanh mình về quan niệm không tham dục của nhà Phật, về cách sống Phật, một cách sống không đưa tới những thứ khủng hoảng, trong đó có khủng hoảng năng lượng.

Minh Thạnh

Thứ Ba, 16 tháng 3, 2010

Tản mạn Cà Phê Phố Núi .


Trong tâm thức của mỗi người đều có một quê hương riêng. Có người coi trái đất là quê hương mình, có người coi Tổ Quốc mình là quê hương mình, có nguời coi Tỉnh mình là quê hương mình, có người coi nơi mình chôn nhau rốn là quê hương mình. Tâm tôi không to rộng, nên tôi chỉ coi phố núi Pleiku là quê hương mình. Quê hương với bao ân tình kỷ niệm, ngồi bên tách cà phê, nhắm mắt lại là từng con người, dãy phố, con đường ở Pleiku hiện ra.
Nhắc đến cà phê, chúng ta vô cùng cảm ơn, nhớ ơn Đức Phật, hai ngàn sáu trăm năm trước Ngài đã không cấm đệ tử mình uống cà phê, Ngài chỉ cấm uống rượu và các thức uống gây say khác. Bởi Thầy mình không cấm, nên ngày hôm nay các Tăng sĩ phật giáo ngồi nhâm nhi ly cà phê công khai, chứ nếu Phật cấm thì không công khai được đâu, chỉ tìm cách uống lén thôi.
Diện tích trồng cà phê ở Pleiku - Gia Lai chỉ thua Đắc Lắc - Buôn Mê Thuột, và có lẽ cà phê ở Pleiku không ngon bằng cà phê Ban Mê Thuột, có thể do chất đất, có thể do cách sao tẩm, chế biến chưa đạt đến đỉnh cao. Cả nước khi nhắc đến cà phê là liên tưởng đến Ban Mê Thuột, ít khi liên tưởng đến Pleiku. Bởi các doanh nghiệp trồng cà phê, chế biến cà phê Pleiku – Gia Lai chưa có dịp cùng với các vị lãnh đạo, văn nghệ sĩ, dân ghiền cà phê tỉnh nhà ngồi lại với nhau, cùng uống cà phê, cùng trao đổi, cùng thổi hồn, thổi nghệ thuật, thổi triết lý nhân sinh vào cho từng giọt cà phê, để cà phê trở thành một thứ Đạo, như Trà Đạo, tại sao ta không biến thú vui tao nhã là uống cà phê, thành cà phê Đạo.
Ừ cũng vui lắm chứ, cũng thú vị lắm chứ !
Ngày xưa khi đất nước chưa công nghiệp hoá, chưa hiện đại hoá, con người tiêu thụ ít hơn, có nhiều thời gian hơn ta cùng với bạn lành ngồi bên tách cà phê phin, trong một buổi sáng sương mù lãng đãng trong một quán cà phê vỉa hè, vừa uống vừa nghe nhạc Trịnh với chiếc máy đĩa to đùng, nhìn mọi người lướt qua nhẹ nhàng, không vội vã không hấp tấp, do vậy ta cũng bình tĩnh hơn để nhắp ly cà phê, tương tác mà. Đức Phật dạy: ” Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không. Cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt”. Thiên hạ mà vội vội vàng vàng thì ta cũng vội vội vàng vàng theo, chế một ly cà phê tốc hành uống vội rồi đi, đi như bị ma đuổi, đi mà không biết mình đi về đâu.
Bên tách cà phê buổi sáng, sương mù giăng giăng khép nẻo, cùng với tiếng vó ngựa lốc cốc trên mặt đường, đường trồng nhiều cây thông, ta nghe lòng thanh thản, thư giản. Nhìn từng giọt cà phê rơi ! rơi ! nhè nhẹ rơi ! Ta thấy như giọt thời gian rơi vào hư vô, nhắc ta phải làm gì, biết mình phải làm sao trong cuộc đời này. Mình từ đâu đến và chết rồi sẽ đi về đâu. Không có cái gì bỗng dưng mà có, không có cái gì bỗng dưng mà không, tất cả là nhân duyên trùng điệp. Giọt cà phê này từ đâu mà có, uống vô bụng rồi thì đi về đâu. Có thiệt là uống vô bụng rồi thì mất hẳn ? Khi buồn ta uống cà phê để suy gẫm, suy gẫm vì sao đời mình lao đao lận đận, vì sao cuộc tình nào đến với mình rồi cũng vỗ cánh bay, vì sao mình cứ chối bỏ quê hương, vì sao tháng năm biền biệt chưa về thăm cha già mẹ yếu, em thơ….. Khi vui ta uống cà phê và ta nhận diện ra rằng không có gì hạnh phúc bằng giây phút hiện tại, ta an lạc với giây phút này, bởi ta không biết trân quý giây phút này, thì biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao.
Tôi không ghiền cà phê, nhưng tôi có uống, bởi có thói quen suy tưởng nên ghi lại đây vài dòng tâm tư tản mạn, để tặng mình và tặng thân hữu gần xa.

Pleiku , đầu xuân Canh Dần.
Thích Giác Tâm

Thứ Ba, 26 tháng 1, 2010

Vì sao Tu Sĩ Phật Giáo cần có Tri Thức Khoa Học?

Câu hỏi sẽ không cần đặt ra nếu người tu sĩ mặc định và hành trì một cách tuyệt đối tư tưởng: “Giải thoát là không còn trụ nơi hình tướng”; mà khoa học thì lại trụ bám vào hình tướng, vì đối tượng của nó là vật chất, - tức hình tướng. Người tu sĩ chỉ cần “hành thiền” hay “niệm Phật nhất tâm bất loạn.”
Thật ra, yêu cầu tri thức khoa học đối với người tu sĩ Phật giáo nói chung có thể chứng minh được, căn cứ trên hai thực tế: Thực tế khách quan và sự nghiệp tu hành - hoằng hóa (tự giác giác tha).
I. Thực tế khách quan
1. Hiện thực pháp giới tính
Trong vũ trụ vạn hữu, không một hiện tượng nào không liên hệ với tất cả các hiện tượng khác. Đạo Phật không tách rời khỏi thế giới còn lại. Phật pháp không tách rời thế gian pháp, “Nhất thiết thế gian pháp vô phi Phật pháp.”
Chân lý này từng được nêu rõ trong kinh Phật. Kinh Hoa Nghiêm có giáo nghĩa “tương tức, tương nhập”. Tương tức có nghĩa là cái này là cái kia. Tương nhập có nghĩa là cái này nằm trong cái kia.
2. Quan niệm hiện đại về một Trí quyển (noosphere) bao quanh địa cầu, đó là “quyển” do tâm thức và trí tuệ (do tâm trí) của loài người tạo nên.
Tác động của con người vào tự nhiên đã làm biến đổi sâu sắc bộ mặt của hành tinh và các tầng quyển bao quanh nó, đến mức độ không còn nơi nào không mang dấu ấn hoạt động con người.
3. Khoa học và ứng dụng của nó là Kỹ thuật tác động trên con người:
- Tích cực: cho phép hiểu thế giới hiện tượng ngày càng sâu sắc và chính xác.
- Tiêu cưc: Môi trường sống bị tổn hại nghiêm trọng; chiến tranh, tội ác khi áp dụng khoa học - kỹ thuật vào mục đích xấu.
A.Einstein phát biểu rằng: “Tại sao cái nền khoa học ứng dụng nguy nga lộng lẫy ấy, - tiết kiệm sức lao động và làm cho đời sống được dễ dàng hơn, - lại mang đến cho chúng ta quá ít hạnh phúc như vậy? Câu trả lời là: Bởi vì chúng ta chưa học cách sử dụng nó theo lương tri. (Why does this magnificent applied science, which save work và makes life easier, bring us so little happiness? The simple answer runs: Because we have not yet learned to make sensible use of it. – Albert Einstein. Address, California Institute of Technology. The great Quotations, Science. p.854)”
4. Khoa học đã trở thành một trong những hoạt động có tốc độ phát triển nhanh nhất của loài người.
5. Khoa học là Tri thức, mà Tri thức là sức mạnh (Knowledge itself is power. – Francis Bacon).
6. Khoa học đẩy lùi dần mê tín, tà thuyết, tà đạo.
II. Sự nghiệp tu hành và hoằng hóa
1. Đạo Phật là đạo của trí tuệ. Khoa học là trí tuệ thế gian phù hợp với lý trí, không mâu thuẫn với Phật pháp, do vậy mà khi hoằng hóa người tu sĩ cần có những hiểu khoa học nhất định.
2. Nhìn chung, tăng sĩ có tri thức khoa học hiểu kinh điển sâu sắc hơn, đồng thời có thể dùng khoa học để lý giải, thuyết minh chân lý đạo Phật.
- Việc hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo sẽ được dễ dàng và có hiệu quả hơn khi hàng tu sĩ có trình độ văn hóa và khoa học vững vàng.
- Cảm hóa tha nhân bằng đức, nhiếp phục họ bằng trí, và bắt đầu bằng thế trí, mà khoa học là thế gian trí tiêu biểu nhất.
3. Khoa học - Kỹ thuật cung cấp những phương tiện trợ duyên cho sự học hỏi và truyền bá chánh pháp.
- Về phương tiện tri thức, có các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội; các nghành y học, tin học, giáo dục học v.v…
- Về phương tiện vật chất, như: video, cassette, máy vi tính.
4. Biết và sử dụng được một vài phương tiện kỹ thuật chưa đủ để có thể gọi là có tri thức khoa học.
III. Phật pháp và Khoa học
1. Phật pháp là Chánh trí, là Chân lý trong khi khoa học thì đang trên con đường đạt tới Chân lý. Do vậy mà cái biết của khoa học đã và đang tiến hóa theo thời gian, còn những điều đức Phật nói ra là Sự Thật hiển nhiên “như thị”, không có gì phải “xét lại”, như Albert Einstein, nhà bác học vĩ đại nhất của thiên niên kỷ đã nhận định: “Nếu có một tôn giáo nào thích ứng được với các nhu cầu khoa học hiện tại thì tôn giáo đó chính là Phật giáo. Phật giáo không cần duyệt xét lại hầu cập nhật hóa với những khám phá khoa học mới đây. Phật giáo không cần từ bỏ quan điểm mình để theo khoa học, vì Phật giáo không những bao gồm cả khoa học mà còn vượt qua cả khoa học nữa.”
2. Căn cứ trên biện chứng “giải thoát là tu trí (trí độ)” thì Phật pháp là “cái chuẩn”, là “thước đo” trình độ khoa học chứ không thể dùng khoa học làm thước đo Phật pháp, - như một số phật tử trí thức đã mắc phải sự nhầm lẫn này.
3. Khoa học khám phá những quy luật của thế giới vật chất, chứ tự nó không phải là phương tiện giải thoát con người khỏi phiền não và luân hồi sinh tử.
4. Tu sĩ Phật giáo cần có kiến thức khoa học để:
- được thêm thuận lợi khi hoằng pháp trong một thế giới mà khoa học ngày càng tiến bộ;
- điều chình tình trạng tâm – sinh lý bản thân khi có vấn đề về bệnh lý.
Nhưng không thể cho đó là điều kiện tất yếu bởi vì giáo pháp của đức Thế Tôn đã hoàn toàn đầy đủ cho bất cứ chúng sinh nào - trong cuộc hành trình giải thoát - thực hiện đúng pháp môn Ngài dạy.

Giáo sư - Cư sĩ Phạm Phú Thành

__________________

PHẬT TỨC TÂM ,THƯỜNG LẠC NGÃ TỊNH
ĐẠO THỊ ĐỨC , HĨ XÃ TỪ BI

Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2010

Kinh doanh là trò chơi, tiền bạc là phương tiện , Phật Pháp là tất cả


Ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Hoa Sen là một doanh nhân thành đạt. Tập đoàn Hoa Sen trở thành thương hiệu quen thuộc trong ngành Thép tại Việt Nam trong vòng 5 năm trở lại đây với một sự phát triển có tốc độ nhanh.

Từ đấy, ông ít nhiều trở thành điểm chú ý của nhiều giới, vì thế mà những thông tin về ông cũng khá nhiều người biết. Chẳng hạn như ông đi lên từ hai bàn tay trắng với số vốn ban đầu chỉ có 2 chỉ vàng. Trong vòng 6 năm, từ một công ty thành lập với số vốn điều lệ ban đầu là 30 tỷ thì nay đã là 570 tỷ đồng.

Rồi một số giải thưởng đạt được như Sao vàng đất Việt, Doanh nhân xuất sắc Việt Nam… Và cả những việc tài trợ cho bóng đá, làm từ thiện…

Tuy nhiên, tất cả những điều ấy đối với ông chỉ là phương tiện như ông đã nói. Điều cốt lõi quan trọng nhất mà Lê Phước Vũ hạnh phúc chính là ở chỗ mình là một Phật tử có niềm tin sâu sắc đối với đạo Phật.

Khi trò chuyện về Phật giáo, ông quên hết mọi chuyện xung quanh và nói về Phật pháp với một lòng tin kiên cố. Câu chuyện với ông Lê Phước Vũ rất dài, chúng tôi chỉ xin lược ghi lại những gì cơ bản và ít nhiều riêng tư mà ông đã rất chân thành và cởi mở với VHPG.

Phóng viên (PV): Thưa ông, rất nhiều người được biết một câu chuyện rằng, trong lần làm ra số tiền lớn nhất đầu tiên trong đời, ông đã đem toàn bộ số tiền ấy để thỉnh tượng Phật. Đây không phải là hành động như những người bình thường, vì ai cũng biết lúc ấy ông chưa giàu như bây giờ, có một số tiền lớn lẽ ra phải chi dùng cho cuộc sống chứ?

LÊ PHƯỚC VŨ (LPV): Trên đời này tôi thấy Phật pháp là cao quý nhất không gì sánh bằng. Từ khi tôi nhận thấy được điều đó cho đến nay thì niềm tin ấy không bao giờ thay đổi, một niềm tin tuyệt đối và mạnh mẽ.

Những lời dạy và những giá trị của đạo Phật chi phối mọi hoạt động trong cuộc sống của tôi. Điều quan trọng nhất của người học Phật là cung kính Đức Phật và làm theo lời dạy của Ngài. Cho nên mình có cái gì quý nhất thì mình đem cúng dường. Thỉnh tượng Phật để thể hiện lòng nhớ ơn, một sự cung kính đối với Phật.

Tôi quan niệm hạnh phúc thuộc về mặt tinh thần. Chưa chắc có nhiều tiền đã là hạnh phúc. Có thể sống một đời sống vật chất vừa phải (tất nhiên không để quá nghèo) nhưng vẫn có những giá trị tinh thần lớn lao, như thế đã là hạnh phúc.

Đối với tôi cũng vậy thôi, mình đọc được kinh Phật, hiểu được giáo lý của đạo Phật, và qua đó mình sống tốt hơn, giúp ích được cho nhiều người hơn, từ đó mình thấy đời sống tinh thần, đời sống tâm linh của mình ngày một thăng hoa. Đức Phật, mặc dù nhục thân của Ngài mất cách đây đã hơn hai ngàn năm trăm năm, nhưng Pháp thân của Ngài vẫn hiện hữu trên thế gian này.

PV: Ông thật sự thấu hiểu và có một niềm tin tuyệt đối như thế vào đạo Phật từ khi nào?

LPV: Gia đình tôi có truyền thống theo đạo Phật, bà nội của tôi là người xuất gia từ năm 1972 theo phái khất sĩ. Tiếp theo ba tôi cũng theo đạo Phật. Hồi xưa, mình sống theo tín ngưỡng gia đình thôi. Lúc đó đạo Phật đối với tôi mang tính tín ngưỡng nhiều hơn là sự tỏ ngộ tâm linh và một sự thấu hiểu, quán triệt tinh thần về tâm linh.

Năm 30 tuổi, nhiều thiện duyên đến. Với tôi, có thể nói việc quay lại với đạo Phật là nhờ vào tha lực, một nhắc nhở của một thế giới tâm linh cao hơn. Tôi nhớ có nhiều sự kiện trong đời sống làm cho tôi ngạc nhiên bất ngờ. Tôi đã từng không tin vào thế giới tâm linh, không tin có Trời, Phật… ngoài thế giới con người. Những gì tôi thấy, tôi nếm, tôi nghe, cảm nhận được thì mới tin.

Rồi có nhiều chuyện xảy ra trong cuộc sống buộc tôi phải thấu hiểu rằng, chắc chắn có một thế giới tâm linh. Lúc đó tôi gần như hoàn toàn sụp đổ. Tôi bắt đầu quan tâm đến cái thế giới đó. Nhiều câu hỏi đặt ra trong tôi: Gốc rễ của thế giới đó là gì? Sự tương tác giữa con người và tâm linh là gì? Và nó tương tác qua cái gì? Sau tất cả, bản chất của thế giới tâm linh đó là gì?...

PV: Thế rồi ông đã tự tìm ra câu trả lời cho mình như thế nào?

LPV: Tôi bắt đầu đọc và tìm hiểu trong kinh Phật rất nhiều nhưng ban đầu vẫn không tự giải thích được. Sau này, khi tôi đọc kinh Thủ Lăng Nghiêm, lúc đó tôi còn làm nghề lái xe, mỗi lúc nghỉ ngơi tôi lại lấy kinh ra đọc, đọc đến trang nào nhập tâm trang đó, dần dà tôi hiểu được mối giao thoa giữa con người và đời sống tâm linh.

Có thể nói, thiện duyên lớn nhất giúp tôi bước vào đạo Phật và giác ngộ chính là bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm. Sau thiện duyên đó, tôi phát nguyện thường trì tụng bộ kinh này. Và rồi tôi đi tìm một người thầy để quy y.

Mãi sau này, đọc đến kinh điển Đại thừa, tôi hiểu rằng cái tinh túy nhất của đời sống là huệ mạng. Tôi tin rằng nhiều kiếp mình đã tin Phật, hành trì theo đạo Phật và học pháp theo Đại thừa. Hình dung giống như một đời mình sinh ra đã phát nguyện tu hành.

Khi tôi đến với Phật giáo không phải là những cái tôi học trong sách. Có những cái tôi đọc và nhập tâm rất nhanh. Có những lời mình nói ra, và khi đọc lại kinh thì giống y chang. Giống như những dữ liệu trong máy vi tính, mình đã nhập dữ liệu trong bộ nhớ, chỉ cần đúng mật mã là nó hiển thị ra. Dường như tôi có căn lành với Phật pháp.

PV: Về mặt lý thuyết là thế, còn thực tế thì ra sao, bởi vì con người ta thường có xu hướng phải thấy thực tế mới tin được, sách vở đôi khi chỉ có tính hỗ trợ hoặc giúp ta kiểm chứng lại thực tế để từ đó công nhận đúng sai mà thôi. Vì thế, để có được niềm tin sâu sắc và kiên cố đến ngày hôm nay, thực tế mà anh đã trải qua là gì?

LPV: Khi đã ngộ đạo rồi thì nên thực hành, thực hành để bảo đảm hai việc, thứ nhất là chuyển hóa tâm thành các phước báu thế gian, và thứ hai là chuyển hóa tâm thức, vì chuyển hóa tâm thức chính là cái gốc của người tu.

Trong quá trình tu tập, cũng có thể có thầy trực tiếp hoặc là thầy về mặt tâm linh, nếu có duyên thực hành thì sẽ thấy sự mầu nhiệm của nó. Ví dụ, khi mình khởi một sự nghi tình, mình thường không có lời giải. Bỗng nhiên trong cuộc sống xảy đến những chuyện đem đến cho mình một lời giải thích hoặc kết luận rất thích đáng.

Người nào thực hành Phật pháp, là hành giả, có một hành tâm sâu và có căn lành thì thường trong việc học của họ, trong cuộc sống của họ luôn có những diễn biến như vậy.

PV: Thế thì nhân duyên về mặt tâm linh để đưa ông đến với công việc kinh doanh như thế nào?

LPV: Vào thời điểm bắt đầu hiểu Phật pháp, tôi chỉ có một ước nguyện lớn nhất là mong muốn xuất gia. Nói nôm na là chỉ muốn đi tu, không muốn ở đời. Lúc đó tôi đã có vợ và một con trai. Bà xã của tôi khóc quá trời. Bởi vì khi đó tôi thấy thế gian này không nghĩa lý gì hết.

Sau đó, tôi cầu nguyện rất nhiều và hiểu rằng mỗi người sinh ra trên thế gian này có một sứ mệnh riêng. Song song, tôi bắt đầu gặp những cơ hội trong kinh doanh. Có những lúc bế tắc, tôi cầu nguyện và thấy mình sang suốt hơn, minh mẫn hơn, tìm thấy con đường đi đúng đắn hơn. Nói nôm na theo kiểu đi thỉnh kinh của Đường Tam Tạng ấy, cũng trải qua nhiều gian nan nhưng cuối cùng cũng tai qua nạn khỏi.

Đạo Phật chỉ cho tôi thấy rằng, trong bất cứ việc làm nào, tôi cần có cái trí và cái dũng để vượt qua những bế tắc. Tôi gặp nhiều gian truân mới có được sự nghiệp như ngày hôm nay. Nhưng trong quá trình ấy, tôi được rất nhiều may mắn và duyên lành dẫn dắt tôi đi.

PV: Bây giờ xem như ông ta là doanh nhân thành đạt. Ông nói mình giác ngộ đạo Phật, hành trì Phật pháp trong đời sống. Vậy trong việc kinh doanh, ông áp dụng như thế nào về tinh thần của đạo Phật. Chúng ta sẽ bắt đầu từ đề tài là quản trị nhân lực, văn hóa Phật giáo ở Tập đoàn Tôn Hoa Sen như thế nào?

LPV: Phật pháp bất ly thế gian pháp, hay thế gian pháp cũng là Phật pháp. Tôi nghĩ rằng do cái tâm mình thôi. Nếu mình giữ cái tâm đúng, trong sáng, cái tâm cho chính và có trí tuệ, thì việc hành xử trong thế gian và Phật pháp cũng không có gì khác.

Trong công ty tôi, các nhân viên của tôi rất hiền, rất đàng hoàng, chỉ có một mình tôi… dữ. Đó là vì tôi phải nghiêm khắc. Thế gian này, người ta sống với nhau gian nhiều hơn ngay, ai làm gì cũng mánh mung, kiếm chác, vị kỷ… tôi không nói tất cả mà là đa số.

Người tốt cũng có, nhưng ít, hoặc là nhiều thì cũng bị xu thế xã hội khiến người ta co lại. Tôi làm sao đó để nhân viên của mình ít nhiều sống theo đạo Phật, đó là thành thật, không nói dối, bởi vì sự trung thực hiện nay trong xã hội mình thuộc… hàng hiếm!

Chúng ta nói trung thực thì ai cũng nói được, nhưng nghĩ ra những giá trị mà tác động của nó lên một xã hội, một đất nước, một doanh nghiệp là cực kỳ quan trọng. Tôi nghĩ, sự trung thực là điều cốt lõi nhất trong mối quan hệ cộng đồng. Có trung thực thì quan hệ giữa con người với nhau mới đơn giản hơn, nhẹ nhàng hơn, vì lúc đó những nghi kỵ nhau không còn, mà chỉ có tin cậy và chia sẻ.

Tôi không dám nói chắc rằng nhân viên của Tập đoàn Hoa Sen là trung thực 100%, nhưng phải dám tự hào là trên 95%. Chúng ta là người phàm, tâm chúng ta không thoát khỏi những vị kỷ, đôi lúc do ngoại cảnh. Nhưng, khi đặt ra cho nhân viên của mình tiêu chí trung thực là tôi muốn họ luôn hướng về và giữ gìn điều ấy.

PV: Ông có áp dụng tâm từ bi vào kinh doanh hay không? Xin hỏi một câu rất cũ, nhưng mong một câu trả lời trung thực như tiêu chí của chính ông đặt ra. Với những đối thủ của mình, ông có xu hướng nhân nhượng hay làm bằng mọi cách để chiến thắng?

LPV: Tất cả hành động của mọi người đều là cái nhân để tạo thành nghiệp báo, theo quy luật nhân quả của nhà Phật. Ở trên thương trường thì phải có cạnh tranh, phải có đối thủ. Tùy theo quan niệm nhìn nhận của từng người, có những người có kiến thức đủ và cao thì họ nhìn sự việc một cách khách quan và rất là chuyên nghiệp.

Trong kinh doanh tôi cũng thường bị sự phản ứng của các đối thủ. Tất nhiên miếng bánh chỉ có thể, mình lớn lên thì người khác phải nhỏ bớt lại. Và khi nhỏ bớt lại thì tâm lý con người thường cảm thấy bị tổn thương, bực bội. Tôi có quan niệm rõ ràng rằng mình làm việc này để đem lại lợi ích cho số đông và một cách chân chính.

Lấy ví dụ tôi có một chiến lược kinh doanh, tôi sẽ đưa ra những sản phẩm tốt hơn, dịch vụ tốt hơn để chinh phục thị trường, nếu tôi thắng thì chắc chắn tôi mang lại lợi ích cho số đông. Nếu các đối thủ của tôi muốn chiến thắng tôi, thì họ phải tạo ra một sản phẩm tốt hơn, dịch vụ tốt hơn, như thế cũng là để phục vụ cho xã hội.

Trong kinh doanh, chúng ta phải hiểu rằng đây là cái “game” và phải “fair play”. Khi chơi thì không bực dọc, bực tức, bất bình, người nào chơi giỏi hơn, chơi tốt hơn thì thắng. Khi lên võ đài phải so găng thì phải chiến đấu hết mình và giành được chiến thắng. Nhưng chiến thắng xong rồi thì bắt tay cười.

Tôi dám tự hào và tự tin nói rằng, tôi là người liêm chính trong kinh doanh. Bạn có thể đi hỏi những người có làm ăn liên quan đến tôi xem thử tôi có bao giờ buôn gian bán lận với ai không? Không bao giờ! Mua hàng với người ta cũng vậy, tiền bạc trả sòng phẳng. Làm ăn rất đàng hoàng.

Thế nhưng trong cạnh tranh, tôi thẳng thắn nói rằng mình luôn có những chiêu thức độc chiêu. Có câu nói quen thuộc thương trường là chiến trường. Theo tôi, một ông tướng trên chiến trường không phải bao giờ cũng muốn tiêu diệt người khác đâu. Nhưng nếu ông tướng này không cương quyết thì ông sẽ thua, sở dĩ phải thắng đối thủ là vì ông phải bảo vệ đoàn quân của mình.

Khi mới bắt đầu làm ăn còn nghèo, mục đích của mình là nuôi sống bản thân và gia đình, sau đó tạo công ăn việc làm tăng thu nhập cho những cộng sự, rồi khi có điều kiện mới đóng góp xã hội.

Trong quá trình làm việc đến nay đã tích lũy số vốn lớn, nhưng việc phải tự nhủ mình làm sao sử dụng số vốn đó và làm sinh sôi nảy nở nhiều hơn mà không bao giờ được quên mục đích đóng góp và chia sẻ cho cộng đồng.

PV: Những điều ông nói có mâu thuẫn với tinh thần buông xả của đạo Phật không? Chẳng hạn như là, có nhất thiết phải làm sinh sôi nảy nở số vốn cho nhiều hơn nữa hay không? Vì khi có một tài sản lớn, nào ai dám chắc ông sẽ không muốn nhiều hơn nữa?

LPV: Vấn đề lớn của tôi đặt ra là phải tìm ra đồng tiền một cách chân chính, chính nghiệp và chính mạng, đó là cái lớn nhất mà cho đến hiện giờ tôi đang giữ được. Hãy xem tiền bạc là phương tiện chứ không phải là mục đích.

Cái thứ hai nữa là, mình kinh doanh để tạo ra lợi nhuận. Tạo ra lợi nhuận rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn vẫn là chia sẻ lợi nhuận. Chúng tôi có một khái niệm rõ ràng rằng, Hoa Sen sẽ không bao giờ tạo ra lợi nhuận cao bằng cách bóp tối đa chi phí tiền lương của người lao động. Quan niệm thứ hai là lợi nhuận này phải được chia sẻ với nhiều người. Việc chúng tôi luôn đóng thuế đầy đủ cho Nhà nước, đưa Công ty Hoa Sen ra đại chúng, kêu gọi đầu tư của đại chúng… đó chính là những cách gián tiếp chia sẻ lợi nhuận cho mọi người.

PV: Khi chiến thắng hay đạt được mục đích, ông thấy mình được gì mất gì?

LPV: Tôi đã từng suy nghĩ nhiều về điều này, vì khi tôi càng thành công thì sẽ có nhiều đối thủ không thành công, đó là mâu thuẫn.

Thật ra, kinh doanh có muôn vàn khó khăn và mệt mỏi. Đời sống hiện nay khó khăn, đồng tiền trượt giá… Năm ngoái tôi còn tính thôi đủ rồi, không làm nữa, vì tiền mình đang có cũng đủ nuôi quân, cúng dường, làm từ thiện…

Nhưng các nhân viên của tôi thì bảo: ông đủ rồi nhưng tụi em chưa có. Có những lúc tôi cũng nản lắm chứ, cũng muốn dừng lắm chứ, nhưng dường như có một tiếng nói khác vọng về trong tâm tưởng rằng, chưa đâu, mình còn phải “chiến đấu” để tiếp tục vì bao nhiêu người.

Khi mặc áo giáp của một vị tướng thì phải hành xử như một vị tướng. Nếu tôi muốn sống cuộc đời trong tinh thần từ bi cũng được, chẳng hạn xuất gia, làm từ thiện, nuôi mấy em nhỏ… cái đó càng dễ cho tôi. Nếu chỉ làm giàu cho bản thân mình và gia đình mình, với tôi như thế là quá đủ. Tôi muốn mang lại cuộc sống tốt hơn cho và vì nhiều người khác trong cộng đồng.

PV: Hầu như doanh nhân nào cũng làm từ thiện. Tất nhiên, việc làm từ thiện thì rất tốt. Nhưng cho tôi được mạn phép hỏi một câu rất ngớ ngẩn về động cơ và mục đích của việc làm từ thiện của ông, rằng giữa việc xuất phát từ mục đích vì cộng đồng và để đánh bóng tên tuổi cho doanh nghiệp, phần trăm nào nhiều hơn đối với ông?

LPV: Tôi nghĩ trong giáo lý của Đức Phật có rất nhiều lời dạy rằng phải có một cái nhìn đúng đắn về mọi sự vật, qua cái nhìn đó sẽ có hành động rất chính xác. Giá trị của nó thì rất lớn nhưng để trở thành hiện thực thì phải là một hành động cụ thể.

Mình nói mình thương người không thì không đủ, phải có hành động gì để thể hiện cái thương ấy. Học bố thí cũng vậy.

Tuy nhiên, những của cải mà mình bố thí ấy phải làm ra chân chính bằng mồ hôi, bằng trí óc, bằng sự nỗ lực và lấy của cải ấy giúp cho người khác mới có ý nghĩa. Sự bố thí cúng dường ấy mới đúng.

Trước tiên là giúp người đồng thời với cái thứ hai là giúp mình. Bởi vì trong con người mình thường tham lam, ích kỷ, khi mình làm điều thiện là đối trị với tâm bám víu trong mình, để tâm mình mở rộng hơn. Về vật chất thì đúng là mình giúp cho người khác, còn về tâm linh thì đúng là mình đã tạo sự thăng hoa cho tâm linh của mình.

Những việc làm từ thiện như tôi, tôi nghĩ ở Việt Nam chắc chắn đã có rất nhiều người làm, tôi nghĩ tính vị tha và đùm bọc lẫn nhau ai ai cũng có, có nhiều người làm một cách âm thầm, tôi nghĩ mình chỉ là một trong số đó không có gì đặc biệt.

Tôi nghĩ rằng trong đất nước này vẫn còn có những người có lòng nhân ái, có lòng từ bi, muốn chia sẻ với đồng loại. Điều đó là bình thường chẳng có gì lớn lao.

Cá nhân tôi, để đánh bóng thương hiệu, tôi có nhiều cách khác, như làm sự kiện, làm chương trình truyền hình, tài trợ bóng đá, quảng cáo… Có một số việc từ thiện tôi làm mình tôi biết. Cái mà báo chí và dư luận biết chỉ là một phần nhỏ trong những phần tôi đã làm.

PV: Vậy điều cốt lõi trong kinh doanh của ông và Tập đoàn Tôn Hoa Sen là gì?

LPV: Tập đoàn Hoa Sen luôn có những cách đi riêng của mình không giống như những doanh nghiệp khác để phát triển bền vững, nhưng trên hết phải lấy đạo đức làm nền tảng. Tiêu chí của chúng tôi là trung thực - cộng đồng - phát triển.

Riêng cá nhân tôi, tôi hạnh phúc vì có được những giá trị sống tốt, lại vừa làm được rất nhiều việc để giúp mọi người. Đạo Phật có câu, tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn.

PV: Cảm ơn ông về buổi trò chuyện này. Chúc ông luôn an lạc trong mọi hoàn cảnh.

Theo: Văn hóa Phật giáo
__________________

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2009

Viết về cháu Khôi Nghĩa nhân mùa Vu Lan



Viết về cháu Khôi Nghĩa nhân mùa Vu Lan

Từ khi loài người có mặt ở hành tinh màu xanh này, tình mẹ con đã có mặt. Các loài có tình thức đều có tình cảm đó, nhưng rõ nét và dễ nhận diện vẫn là tình mẹ con trong cõi giới người ta. Văn chương thơ ca từ xưa đến nay không biết bao nhiêu bài viết về tình mẹ, viết hoài vẫn không hết, vẫn mới, vẫn rung cảm sâu xa. Ai đó mà biết nhớ ơn mẹ, thương mẹ từ trong tâm cảm, lời thốt ra đều rung động lòng người. Có trường hợp lời không nói ra, chỉ trầm tư sâu lắng, vén mảnh y vàng quỳ xuống cúi lạy đống xương hỗn tạp bên đường, mà trong đó chắc có hài cốt của ông bà cha mẹ mình trong nhiều đời kiếp, luân hồi bất tận, tử tử sanh sanh. Hình ảnh của trái tim yêu thương nhân thế và biết ơn đền ơn kia chính là Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni. Hình ảnh đó mỗi khi nghĩ đến đã khiến ta rơi lệ, khơi gợi cho chúng ta biết nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục suốt hơn hai ngàn năm qua.

Tình mẹ vô cùng thiêng liêng, cao quý, dùng mỹ từ hữu hạn của con người diễn tả thế nào cũng không nói hết tình mẹ. Mẹ là chuối ba hương, xôi nếp một , đường mía lau, là bao la như biển thái bình, là tơ trời Đâu La Miên, là vầng thái dương vừa loé lên trong những ngày giông bão, là sợi dây của chiếc diều căng gió lộng giữa bầu trời mênh mông mênh mang……Mẹ là vậy nhưng mà đây đó ( số ít ) cũng có người bỏ con bơ vơ, chạy theo ảo ảnh. Làng Tiên Sơn bên kia dòng sông cạnh chùa, có ai đó bỏ cháu mới lọt lòng mẹ một hai ngày, nhau rốn còn lòng thòng máu me nơi nghĩa trang. Năm ngoái nơi bìa rừng sau chùa ai đó bỏ một cháu còn đỏ hỏn, kiến bò lên đầy cả hai mắt, may mà có người gặp đem về dưỡng nuôi…Và đây là câu chuyện của bé Khôi Nghĩa :

Mùa Phật Đản ở cao nguyên là mùa mưa, năm nào cũng vậy tổ chức tuần lễ Phật Đản rất tốn công sức tiền của, nếu có làm xe hoa, lễ đài. Trong sâu xa ở cõi lòng những người con Phật luôn cầu nguyện, tối 14 sáng rằm trời đừng có mưa để cho xe hoa diễu hành, có năm trời chiều lòng người, nhưng có năm trời mưa vẫn cứ mưa, tuy vậy sức mạnh tinh thần vượt thắng tất cả , trong mưa xe hoa vẫn hân hoan diễu hành, dòng người vẫn bất tận, cha mẹ chở con cầm cờ nhỏ ngũ sắc đội mưa đi theo đoàn xe hoa cổ động reo hò cho ngày Đức Phật đản sanh. Xe hoa có nhiều mà con người tham gia cùng đoàn xe hoa quá ít, sẽ làm cho buổi lễ tẻ nhạt, “người ngoài cười nụ người trong khóc thầm”. Cái mệt trong tuần lễ Phật Đản cũng nhiều, nhưng niềm hân hoan cũng không ít, tối rằm mọi vui buồn mệt nhọc rồi cũng trôi qua. Từ 08 giờ đến 12 giờ đêm trời mưa liên lỷ, kéo dài, khoảng 1giờ sáng trời quang mây tạnh trăng sáng vằng vặc, trong cái tĩnh lặng của đêm hè, bỗng chuông điện thoại reo, tôi ngái ngủ cầm điện thoại lên bên kia đầu giây một giọng nữ thổn thức sụt sịt :” Lạy Thầy con là một người mẹ bất hạnh, có con mà không nuôi được con vì hoàn cảnh, xin Thầy cưu mang nuôi dưỡng cháu dùm con, con để cháu trước cổng chùa, Thầy ra mau lên ẵm cháu vô chùa dùm con”. Tim tôi đập loạn xạ, run rẩy đi gọi chúng điệu trong chùa và các Phật tử làm công quả dậy ra cổng Tam Quan chùa bồng cháu vào. Lúc bấy giờ là 1giờ 30 sáng, mẹ cháu đem theo cho cháu rất nhiều quần áo tả lót, cả sữa và bình bú nữa. Nằm trên nắp giỏ bằng nhựa, nghe tiếng người cháu khóc lên, trong đêm trường tĩnh mịch của một ngôi chùa núi, bốn bề vắng vẻ tịch liêu, tiếng trẻ khóc làm tim tôi nhói đau, tôi bế cháu lên mà nước mắt lã chã , chạy vô phòng đặt cháu lên giường, cháu lại khóc thét lên, tôi vội vàng pha sữa, sữa nhiều nước ít cháu uống không được lại sựa ra, lần thứ hai nước mắt tôi lại chảy. Bên trong ngực của cháu có lá thư, nội dung cũng giống như lời lẽ nói chuyện với tôi qua điện thoại, đọc thư được biết cháu vừa đúng một tháng 3 ngày. Mẹ cháu chưa đặt tên, và tôi đã nghĩ đến cái tên đặt cho cháu sau này.

Làm Thầy hay làm cha mẹ ai cũng mong muốn kỳ vọng vào tương lai của con mình, đệ tử mình. Đặt tên là bày tỏ ước vọng đó, tôi đặt tên cho cháu là Nguyễn Nhân Nghĩa. Nhân: được mọi người yêu mến.Nghĩa: được mọi người trung. Nhưng khi trình báo với chính quyền địa phương, vị cán bộ công an lập biên bản trường hợp trẻ bị bỏ rơi viết chữ Nhân khó đọc quá, vị cán bộ hộ tịch đọc chữ Nhân thành chữ Khôi, khi nhận giấy khai sinh cho cháu tôi thấy chữ lót của cháu đã khác,tôi có nói về chuyện đó, vị cán bộ hộ tịch nói để làm lại. Tôi tra lại tự điển Hán Việt thấy nghĩa chữ Khôi:” Cái gì mất mà tìm lại được là Khôi, như khôi phục”. Tôi yên tâm như vậy là được rồi, Nhân Nghĩa thời nay đã mất đi, mai một nhiều lắm rồi, làm cách nào để khôi phục lại cái Nhân Nghĩa đã mất kia là một chuyện đáng làm, do vậy tên cháu bây giờ là Nguyễn Khôi Nghĩa. Cháu khuôn mặt chữ điền, vầng trán cao rộng, tai to có thuỳ châu, mắt một mí, mũi tẹt mà trống, miệng rộng và luôn cười, mỗi khi cười có hai hạt gạo bên khoé miệng. Tóm lại không đẹp mà dễ thương, ai nói chuyện cháu cũng cười không phân biệt, bình đẳng khi ban phát nụ cười nên được nhiều Phật tử thương mến.

Tôi đã hiểu ra vì sao khi về già văn hào Victo Hugo, chỉ biết sống cho cháu vì cháu, và làm rất nhiều thơ cho cháu. Ông rất hạnh phúc và tự hào tuổi già của mình đã có những đứa cháu yêu quý. Tôi cũng vậy chăm sóc nuôi dưỡng cháu, và các cô chú công quả lớn tuổi, và cả điệu chúng trong chùa ai cũng cảm thấy hạnh phúc khi được ẵm bồng, nựng nịu cháu. Chúng ta yêu trẻ là yêu cái hồn nhiên ngây thơ của chúng, khi cái tham, cái sân, cái si của chúng còn tiềm ẩn trong tàng thức chưa hiển lộ rõ ràng như khi lớn. Tổ Tỉnh Am có nói trong Văn khuyên phát tâm Bồ Đề một câu như thế này “ Nhỏ thì ngây ngô không biết gì, lớn lên tham dục liền sanh”. Ta yêu trẻ bởi vì trẻ ngây ngô, có cái cười không phân biệt, ta yêu một bậc chân tu cũng là vì lẽ ấy, tu cho giỏi cho đàng hoàng, có giới, có định, có tuệ, ta cũng có nụ cười đẹp như trẻ thơ, có nụ cười bình đẳng ban phát cho tất cả không phân biệt thân sơ.
Chúng tôi có đôi lúc cũng buồn cười, nghĩ về tương lai đạo pháp luôn có những suy tưởng viễn vông. Ngồi một mình có đôi lúc tôi mơ màng nghĩ đến chuyện đời xưa. Ngày xưa đất nước chúng ta có vua Lý Thái Tổ ( Lý Công Uẩn ) là một vị minh quân hết lòng vì dân vì nước, thương yêu dân như con ruột của mình. Vì sao được như vậy ? Bởi vì chú bé Lý Công Uẩn cũng được mẹ bỏ trước cổng chùa, được Thiền sư Lý Khánh Văn nhận làm con nuôi, và sau này lớn khôn được Thiền Sư Vạn Hạnh dạy dỗ, hấp thụ tinh thần từ bi khoan hoà của Đạo Phật nên khi lớn lên, lịch sử sang trang làm vua mà yêu dân như con đẻ của mình. Thiền Sư Ô Sào ( Ô là quạ, Sào là tổ ) một cao tăng, sống vào đời Đường Trung Quốc, cũng được mẹ bỏ trong tổ quạ trước chùa, tu hành nghiêm túc sau này trở thành một Thiền Sư lừng lẫy trong lịch sử Thiền Tông Trung Quốc. Ngài có một giai thoại:”Dấu ấn tuổi thơ được mẹ bỏ trong tổ quạ trước chùa, nên sau này làm Thiền Sư ngài luôn ngồi Thiền trên cây ( chỗ ngồi Thiền trên cây Ngài làm giống như một tổ quạ ) có lần thi sĩ Bạch Cư Dị đi ngang qua ngước mặt hỏi Ngài:” Bạch Sư ! Bí quyết của Phật Pháp là gì?” Ngài trả lời:”Các điều ác không làm - Các điều thiện luôn thực hiện - Tự làm trong sạch tâm mình - Đó chính là lời Chư Phật dạy” Thi Sĩ Bạch Cư Dị tỏ ý không vui:” Câu Ngài vừa trả lời tôi trẻ lên ba cũng thuộc”. Thiền Sư Ô Sào cười nói tiếp:” Trẻ lên ba học thuộc nhưng ông già 80 tuổi vẫn không làm được” .

Lịch sử là một dòng chảy bất tận không dừng, không ai biết được ai sau này sẽ làm nên lịch sử. Khéo nuôi dưỡng đào tạo, cọng với âm đức của cha mẹ của người nuôi dưỡng, vụng cũng thành khéo, thông minh trung bình cũng có thể làm nên. Chủ quan, phó mặc không tin nhân quả tội phúc trong khi nuôi dưỡng con, có khi khéo trở thành vụng, thông tuệ trở thành kẻ phá hoại, nặng gánh cho gia đình và xã hội. Ở bầu thì tròn ở ống thì dài, gần mực thì đen gần đèn thì sáng cũng từ ý nghĩa đó.

Vô thường đến đi, ai kịp hẹn ai. Tôi nay đã hơn tuổi ngũ thập tri thiên mạng. Đời người chỉ trong một hơi thở như lời Đức Phật dạy, hơi thở dừng lại trong tích tắc sát na, đã qua đời khác. Nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu viết những dòng chữ này để tặng cho những ai diễm phúc còn mẹ, và cũng nhớ đến mẹ cháu, một người mẹ bất hạnh, không được ẵm bồng nâng niu con, nghe hơi thở thơm mùi sữa của con, được nhìn thấy con cười, được dỗ dành khi con khóc. Chúng tôi không trách móc, chỉ cố hiểu để thương, trong chúng ta có nhiều người lâm vào trường hợp bỏ thì thương vương thì tội, và luôn tâm niệm sau này cháu lớn khôn, kể về mẹ cháu bằng những lời lẽ thương mến cảm thông nhất. Và riêng tôi ngộ nhỡ vô thường đến bất kỳ, rất mong cháu Nguyễn Khôi Nghĩa được chư vị hữu tâm nuôi giáo dục cháu , biết đâu chuyện đời xưa được lập lại, hi hi .

Mùa Vu Lan Phật Lịch 2554 - 2009
Chùa Bửu Minh, Gia Lai
Thích Giác Tâm