Chùa Bửu Minh Gia Lai - Phật giáo và Thời đại

Thứ Hai, 21 tháng 7, 2008

NHỮNG HẠT ĐẬU BIẾT NHẢY


NHỮNG HẠT ĐẬU BIẾT NHẢY

LÂM THANH HUYỀN


Tại biên giới của tỉnh Tây Khương sát với Tây Tạng có một bà lão sống cô độc, chồng và đứa con trai duy nhất của bà đã qua đời. Bà sống nhờ một thửa đất nhỏ trồng những hạt ngũ cốc. Vì cuộc đời đã trải qua nhiều gian truân từ nhỏ, bà lão cảm thấy nghiệp chướng trong người rất nặng nên đã cố công tìm hỏi những người chung quanh phương pháp chuộc tội để cầu xin cho tâm hồn được bình yên. Cuối cùng thì bà được một người hành hương tốt bụng truyền cho một câu thần chú của Quán Thế Âm Bồ Tát. Câu thần chú gồm có sáu chữ Án Ma Ni Bát Di Hồng được gọi là Lục Tự Đại Minh Chú, có thể dùng để giải trừ những nghiệp chướng. Tội nghiệp cho bà già thôn dã đã dốt nát lại không biết chữ, trên đường về nhà bà lẩm bẩm cố học thuộc lòng, nhưng đã nhớ lộn cách phát âm trở thành Án Ma Ni Bát Di Xanh.
Để khích lệ cho việc đọc câu kinh sám hối này bà bày ra hai cái chén, một cái chén không, còn một cái thì để đầy những hạt đậu nành. Mỗi khi đọc xong một câu thần chú, bà nhặt một hạt đậu từ trong chén đầy bỏ sang cái chén không, đến khi cái chén không đã chứa đầy đậu thì bà làm ngược trở lại. Bà lão đã không ngừng nghỉ, thành tâm tụng niệm suố
t 30 năm. Lòng thành kính của bà đã ứng hiện cho nên sau này những hạt đậu không còn cần đến bàn tay của bà nhặt lấy, cứ một câu thần chú vừa được phát âm ra thì một hạt đậu tự động nhảy sang cái chén bên cạnh. Bà lão thấy những hạt đậu tự động nhảy nhót, cộng hưởng với âm điệu của câu thần chú thì biết rằng sự tu hành đã đúng đường và giai đoạn sám hối sắp sửa chấm dứt cho nên bà càng phấn khởi tụng niệm hăng say hơn.
Hôm nọ có một vị cao tăng từ Tây Tạng vân du qua đó, khi đi ngang qua chiếc lều tranh lụp sụp của bà, nhà sư thấy có ánh hào quang tỏa ra rực rỡ. Vị cao tăng này lấy làm kinh ngạc, ông nghĩ rằng bên trong chiếc lều tranh thế nào cũng có một vị chân tu đắc đạo. Ông vội vã ghé vào thăm hỏi. Bà lão lấy làm vui mừng khi thấy vị cao tăng đến thăm, bà quỳ xuống đảnh lễ, mà miệng thì vẫn cứ tiếp tục lẩm bẩm câu thần chú Án Ma Ni Bát Di Xanh. Vị cao tăng lấy làm ngạc nhiên vì không hiểu ánh hào quang rực rỡ mà ông thấy phía bên ngoài phát xuất từ nơi đâu? Ông lần lần hỏi thăm :
- Chẳng hay nữ thí chủ tu luyện bao nhiêu năm rồi? Ở đây còn có ai khác nữa không?.
- Thưa ngài, ở đây chỉ có một mình tôi sống cô độc hơn ba mươi năm nay. Bà lão đáp.
- Thật tội nghiệp, bà ở một mình chắc buồn lắm nhỉ ?
- Không đâu, tuy chỉ ở một mình nhưng hàng ngày tôi tu hành và tụng kinh sám hối để kiếp sau có thể hưởng được nhiều phúc đức của kiếp này, nhờ vậy mà tôi không cảm thấy buồn khổ. Nhất là từ lúc được một người hảo tâm chỉ cho cách tu luyện thì tôi càng có can đảm để sống hơn.
- Bà đang tu luyện kinh sách nào vậy ?
- Ồ, tôi không biết chữ, cho nên chỉ tụng niệm duy nhất một câu thần chú Án Ma Ni Bát Di Xanh.
Nhà sư thở dài tiếc nuối :
- Bà lão ơi, bà đã đọc sai câu thần chú đó rồi, phải phát âm là Án Ma Ni Bát Di Hồng mới đúng .
Đến lúc này thì bà lão mới biết là đã đọc sai câu thần chú hơn ba mươi năm. Bà rất đau buồn vì sự nhầm lẫn trọng đại này, như vậy thì công trình 30 năm tụng niệm coi như xe cát biển đông. Tuy nhiên bà cũng cảm ơn sự cải chính của nhà sư.
- Dù sao thì ngài cũng đã đính chính kịp lúc, bằng không thì tôi còn tiếp tục sai mà không biết cho đến bao giờ mới điều chỉnh cho đúng được.
Nhà sư từ giã bà lão để tiếp tục con đường truyền đạo của ông. Bà lão lại tiếp tục công việc tụng niệm của bà mà lần này với câu thần chú mới Án Ma Ni Bát Di Hồng. Thế nhưng tâm tư của bà còn hỗn độn vì sự việc vừa rồi cho nên ý chí của bà không được tập trung. Mỗi câu thần chú của bà đã không còn làm cho những hạt đậu hứng khởi nhảy sang cái chén bên cạnh như lúc trước. Bà lão vừa tụng niệm mà nước mắt cứ tuông rơi, bà thầm tiếc cho công trình tu luyện hơn ba mươi năm như trôi theo dòng nước vì đã đọc sai câu thần chú.
Nhà sư đi được một đỗi xa, ông ngoái đầu nhìn lại thì thấy căn nhà của bà lão không còn hào quang chói sáng. Bây giờ túp lều tranh hiện hình dột nát mà lại âm u buồn bã. Nhà sư giật mình và nghĩ rằng chính ông đã làm hại người Phật tử này không còn tập trung được tư tưởng như lúc trước. Ông vội vã trở lại túp lều tranh và nói với bà lão rằng :
- Lúc nảy ta chỉ đùa với bà thôi, câu thần chú của bà tụng mới thật là đúng.
- Nhưng tại sao sư phụ lại dối gạt tôi như vậy?
- Ta muốn thử xem lòng thành kính của bà đối với Tam Bảo như thế nào vậy thôi. Từ nay về sau bà cứ tiếp tục tụng niệm y như cũ là phải phép rồi .
- Cám ơn Phật, vậy mà con cứ tưởng rằng công lao 30 năm tụng niệm đã trôi theo dòng nước, đa tạ sư phụ chỉ bày.
Sau khi nhà sư ra đi, bà lão lại tiếp tục công việc tụng niệm, mỗi một câu Án Ma Ni Bát Di Xanh được niệm ra thì tâm hồn bà rộn rã tươi vui và một hạt đậu tự động nhảy sang cái chén bên cạnh. Nhà sư đi lên đến đỉnh núi, ông ngoái đầu nhìn trở lại thì thấy hào quang phát ra từ túp lều tranh của bà lão đã làm sáng rực cả một góc trời.
Trên đây là một câu chuyện đã được lưu truyền rất rộng rãi trong thế giới Phật Giáo, tôi chỉ sửa đổi lại một vài chi tiết nhỏ. Nhớ lại lần đầu tiên khi đọc xong câu chuyện này, tôi rất lấy làm cảm động. Cảm động vì tấm lòng thành kính của bà lão đối với Tam Bảo. Câu chuyện này nói lên rằng âm điệu của thần chú tuy rất quan trọng, thế nhưng lòng thành kính, sự tín ngưỡng, và ý chí chân thành trong lúc niệm thần chú còn quan trọng hơn nhiều.
Thật ra sáu chữ trong Lục Tự Thần Chú này khó có thể lấy một từ ngữ nào để diễn đạt cho được trọn vẹn ý nghĩa. Miễn cưỡng thì ta có thể hiểu được đại ý là “ Cầu xin tự tâm thanh tịnh, liên hoa Phật nở rộ trong lòng”. Từ chỗ này chúng ta thấy rằng triết lý nhà Phật luôn cho rằng khi muốn tâm hồn đạt được sự thanh tịnh, tất cả phải do sự tự phát từ đáy lòng của con người mà ra. Khi bà lão tụng Lục Tự Thần Chú, tâm địa của bà trong sạch, quang minh lỗi lạc như bầu trời không vướng bận một áng mây, vì vậy mà cách phát âm đúng hay sai của câu thần chú lúc đó không còn là một yếu tố quan trọng. Dĩ nhiên, đối với những người phàm phu tục tử chúng ta khi mà sự chân thành tôn kính chưa đạt đến một trình độ có thể làm cho những hạt đậu nhảy được thì âm điệu chính xác của thần chú và kinh kệ hãy còn là một quy luật phải được thực thi đúng đắn.
Hiện nay Lục Tự Thần Chú của Quán Thế Âm Bồ Tát đã trở thành một câu chân ngôn được phổ biến rộng rãi trong thế giới Phật Giáo. Tuy nhiên rất ít người biết được nguồn gốc của câu thần chú này. Nếu như chúng ta biết được rằng Lục Tự Thần Chú đã nở ra từ hàng ngàn mảnh xương sọ của Quán Thế Âm Bồ Tát thì chắc chắn chúng ta sẽ ngạc nhiên và rúng động hơn nữa.
Quán Thế Âm Bồ Tát là một đệ tử của Đức Phật A Di Đà, ngài đã phát nguyện trước Đức Phật Đà một lời thề vĩ đại : “Tận hết sức lực, thần thông để phổ độ tất cả chúng sinh. Nếu như còn một chúng sinh nào chưa được siêu thoát, đệ tử sẽ quyết không thành chánh quả. Nếu như tất cả chúng sinh chưa siêu thoát mà đệ tử nửa đường bỏ cuộc, thì xương sọ của đệ tử sẽ nứt vỡ thành muôn ngàn mảnh”.
Sau khi lập xong lời trọng thệ, Quán Thế Âm Bồ Tát đã ứng hiện tất cả mọi thần thông, hóa thân thành trăm, ngàn, vạn hình hài cứu độ được vô số chúng sinh. Trải qua vô lượng kiếp luân hồi, chúng sinh được độ đã nhiều như Hằng Hà sa số. Thế nhưng khi nhìn lại thế gian, ngài vẫn thấy hãy còn thiên vạn chúng sinh đang ngụp lặn trong si mê trầm luân, trụy lạc; vẫn hãy còn vô số chúng sinh đang chịu những khổ nạn tai ách; và những chúng sinh đang tạo ác nghiệp cũng đông như cỏ kiến. Từ đó ngài suy diễn ra, nếu cứ tiếp tục luân hồi mãi mãi, thì nỗi đau đớn của chúng sinh sẽ còn tái diễn liên miên, sự việc độ trì chúng sinh do đó sẽ không bao giờ chấm dứt. Nghĩ đến đây, Quán Thế Âm Bồ Tát cảm thấy phiền não. Ngài nghĩ rằng “ Cái khổ của chúng sinh là do chúng sinh mà ra. Khi thế gian còn tồn tại thì nỗi khổ của chúng sinh sẽ không bao giờ chấm dứt mà ta thì sẽ không bao giờ độ cho hết được. Lời thề ngày nào là do ta tự làm khổ lấy ta thôi. Nếu như đối với chúng sinh không có ích lợi, thì ta còn kiên trì với lời thề làm chi ?”.
Thương thay, khi ý nghĩ thối lui của Quán Thế Âm Bồ Tát vừa chợt xuất hiện thì lời thề của ngài tức thì phản ứng. Xương sọ của ngài tự nhiên nứt vỡ thành muôn ngàn mảnh, tản mác ra như một đóa hoa sen trăm cánh. Đồng thời Phật A Di Đà cũng từ trong chiếc sọ rạn nứt này hiện thân, ngài nói với Quán Thế Âm Bồ Tát rằng :
“Thiện tai Quán Thế Âm, lời thề không thể bỏ, nuốt lời là đại tội. Những việc thiện trước đây, đều trôi theo dòng nước. Khuyên ngươi tiếp tục tu, nguyện ước tự nhiên thành. Tam thế cùng thập phương, chư Phật cùng Bồ Tát sẽ hết sức giúp cho, thành công đã đến gần”.
Sau đó Đức Phật A Di Đà đã truyền cho ngài khẩu quyết Lục Tự Thần Chú. Quán Thế Âm Bồ Tát sau khi nghe niệm Lục Tự Chân Ngôn, ngài đạt được đại trí tuệ, sinh đại giác ngộ, và tiếp tục giữ lấy lời thề mà không lùi bước. Chúng ta biết rằng Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Từ Đại Bi, là vị Bồ Tát có thiên thủ thiên nhãn, cứu khổ cứu nạn, linh cảm, linh ứng, năng lực của ngài có được là nhờ vào quyền năng Lục Tự Chân Ngôn của Phật A Di Đà truyền cho. Cũng từ sự tích này mà Lục Tự Chân Ngôn còn được gọi là Quán Thế Âm Tâm Chú.
Đây là một huyền thoại rất cảm động, não bộ nứt ra trăm ngàn mảnh của Quán Thế Âm Bồ Tát nở thành đóa hoa sen ngàn cánh. Đó chính là sự tượng trưng đẹp đẽ nhất của Lục Tự Chân Ngôn. Trong số chúng sinh chúng ta, có bao nhiêu người nuôi được ý chí hủy hoại thân xác phàm trần hiện hữu thành tro bụi, để nuôi dưỡng cho một đóa hoa sen được ung dung nở trong tim óc mọi người.
Nhớ lại lần đầu tiên khi nghe xướng Âm Lục Tự Chân Ngôn, thanh Âm trầm hùng, trang nghiêm, đơn thuần, thanh tịnh đó đã khiến cho tôi cảm động rơi nước mắt. Có thể nói rằng trên thế gian không có một thanh âm nào dõng dạc, tràn đầy lực lượng như câu thần chú này. Thật là :
Một tấm lòng trong sáng
Hoa sen nở rộn ràng,
Sen nở vùng đất sạch,
Trên ngự một Như Lai.

Chú thích :
1- Án Ma Ni Bát Di Hồng ( Phát âm theo Phạn Ngữ : OM, MANI PADME, HÙM) : Câu thần chú trên đây đã được phổ biến rộng rãi trong thế giới Phật Giáo, nhất là trong phái Mật Tông vùng Tây Tạng. Người ta luyện câu thần chú này như một phương thức rèn luyện nội công thiền định. Trước hết, tìm một nơi không khí lưu thông, đứng thẳng người, hai tay lật ngữa để ngang bụng, bàn tay trái đặt trên lòng bàn tay phải. Bắt đầu hít vào lồng ngực một hơi thật dài, khi lồng ngực đã chứa đầy dưỡng khí thì mở miệng thở từ từ đồng thời phát ra Âm thanh Án và tưởng tượng như luồng chân khí đang ở đỉnh đầu, kế tiếp theo phát Âm Ma và cố gắng đưa luồng hơi đến mũi. Tiếp theo đến Âm Ni thì luồng hơi được chuyển xuống đến cổ họng. Tương tự đến Âm Bát thì luồng hơi được đưa đến lồng ngực, Âm Di thì chân khí trong người đã được đưa đến đan điền (bụng), tiếp tục đến Âm Hồng thì luồng hơi được chuyển đến hậu môn và thoát ra bên ngoài cơ thể. Nên nhớ là trong lúc sáu chữ trong câu thần chú này được phát Âm thì luồng hơi của cơ thể đang ở trong trạng thái thở ra. Sau đó, sự tập luyện bắt đầu tái diễn bằng cách hít hơi vào lồng ngực... Với hình thức vừa đọc thần chú vừa vận dụng đưa làn hơi trong người tuần hoàn khắp châu thân rồi thoát ra ngoài cơ thể sẽ khiến cho cơ thể con người được giữ ở một trạng thái sạch sẽ và minh mẫn. Những lúc cơ thể mệt mỏi hoặc tinh thần cảm thấy bồn chồn không được an tâm, quý vị có thể thực hiện như lời chỉ dẫn trên đây để lấy lại được sự bình thản trong tâm hồn.
2- Tam Bảo : Phật Pháp Tăng gọi chung là Tam Bảo, Phật là đấng giác ngộ hoàn toàn. Pháp là lời của Phật dạy hay còn được ghi chép lại thành kinh điển. Tăng là người tu hành, có nhiệm vụ diễn dịch và giảng dạy những ý nghĩa trong kinh điển cho tín đồ.
3- Hằng Hà sa số : Hằng Hà là tên một con sông lớn của xứ Phật Ấn Độ. Hạ lưu dòng sông này cũng là nơi Phật Giáo khai sinh và phát triển. Phù sa sông Hằng nhiều vô số kể và đã nuôi dưỡng không biết bao nhiêu dân chúng Ấn Độ. Vì vậy, kinh điển Phật Giáo thường dùng số lượng phù sa của sông Hằng để nói lên cái số nhiều không đếm xuể được.
4- Hiện thân A Di Đà Phật : Từ sự tích trên đây, mà bây giờ những hình tượng của Quán Thế Âm Bồ Tát đều đội mão, và chính giữa chiếc mão có một tượng Phật A Di Đà. Đây cũng là cách nhìn vào để phân biệt giữa Quán Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát.
5- Thập Phương : Từ chữ Thập phương thế giới, thập phương chỉ đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, trên và dưới. Phật giáo chủ trương có thập phương vô số thế giới gọi là Thập phương thế giới. Trong số thế giới đó có chư Phật và chúng sinh nên còn gọi là Thập phương chư Phật và Thập phương chúng sinh.

THƯ MÙA VU LAN


Thầy kính thương của con !
Thấm thoát mà ngày tháng qua mau , con đi xa đã gần ba tháng và một mùa hạ nữa cũng sắp đi qua . Trời vào thu thật buồn , nắng hiu hắt, gió heo may báo hiệu lễ Vu Lan đã về . Tâm trạng của đứa con xa nhà nào có khác gì một kẻ mồ côi, chiều xuống sao nghe lòng buồn chi lạ!
“ Đoái trông muôn dặm tử phần
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa”
Con ngồi đây mà hồi tưởng lại những tháng ngày đã qua. Mỗi mùa Vu Lan về , con thường hay dắt mấy nhỏ đến chùa để được ngắm nhìn khuôn mặt rạng rỡ của các con khi được cài lên áo cánh hoa hồng . Và riêng con đắm mình trong lời kinh tiếng mõ mà nghe thấm thía lời Phật dạy : “Phận con gái còn nương cha mẹ…” Nghĩ lại về mình con thấy từ bao giờ con luôn sống trong tình yêu thương vô bờ bến của má và chị , mà con thì chưa báo đáp được gì . Chỉ làm cho má và những người thân yêu luôn lo lắng cho con, má con không hề đòi hỏi con phải làm gì cho má , chỉ mong được có con ở gần bên được nghe con nói, được thấy con cười là má đã vui lắm rồi . Một ước muốn giản đơn như vậy nhưng con đâu có làm được. Nhiều lúc con cứ tự hỏi : Vì ai , vì cái gì mà con tự đánh mất đi hạnh phúc của chính mình ? Con sống ở nơi đây nhưng tâm tư tình cảm thì luôn hướng về những hình bóng thân yêu ở quê nhà.Nên rốt cuộc thì con đã tự làm khổ lấy mình và cũng làm khổ lây đến bao nhiêu người khác . Biết rằng như vậy là quá khổ, nhưng mà mãi con vẫn chưa tìm được cách vượt thoát ra ngoài nỗi khổ ấy được .
Ơ ! nhưng mà sao khi không con lại kể lể tùm lum như vậy , làm cho Thầy cũng bị buồn lây luôn rồi , nhưng ai biểu Thầy là Thầy của con làm chi, để cho mỗi khi có chuyện buồn vui gì con cũng đều nhớ đến Thầy và muốn đem kể cho Thầy nghe . Con rất mong những lời khuyên bảo dạy dỗ của Thầy .
Thầy ơi dạo này sức khoẻ của Thầy ra sao ? Chùa của mình và cả Thầy nữa có gì vui không , chị Hai của con có thường về chùa thăm Thầy không ? Có thường nhắc nhở gì đến con không ? Hay thời gian qua đi đã làm vơi luôn nỗi nhớ niềm thương của mọi người đối với con rồi ?
Dạo này mấy đứa nhỏ nhà con đã đi học lại rồi, còn con thì cũng chuẩn bị đi học. Nghĩ đến chuyện học sao mà con cảm thấy ngán quá ,tiếng Dan rất khó nói, khó hơn tiếng Anh nhiều , nhưng không học thi đâu có được, con thấy ngán học . Chứng tỏ là con đã già rồi đó phải không Thầy ? Nhưng thôi phải cố gắng chứ kể lể với Thầy , thầy cũng đâu giúp gì đuợc cho con . À ! mấy chú điệu nhỏ của chùa, mùa hè này có về chùa ở thường xuyên để làm rộn cho Thầy không ? Thầy có nhận cho mấy chú ở luôn và có nhờ chị Tiến giúp đỡ không ? Con nghĩ là Thầy phải nhận đệ tử vào rồi đó , chứ mai này Phật pháp ai lo . Con lại nhiều chuyện nữa rồi , Thầy đừng có mắng con nha ! nhưng mà cứ nghĩ đến cảnh chùa mình nằm ở nơi vắng vẻ, mà Thầy lại có một mình. Dù biết rằng bây giờ Thầy vẫn đang còn khoẻ nhưng ai biết được những khi trái gió trở trời, Thầy sớm khuya chỉ có một mình. Con cứ thấy lo lo trong lòng Thầy ơi!
Bạch Thầy ! Con đi xa không được ở gần để chăm sóc cho má con được, đành phải nhờ vào chị Hai . Con xin gởi má con cho Thầy nha, nếu có chuyện gì chị Hai con sẽ rất lúng túng , nhờ Thầy hỗ trợ cho chị. Nếu có lúc nào có dịp qua Pleiku, mà thầy có được chút ít thời gian rảnh rỗi xin Thầy hãy ghé nhà con một chút , nói chuyện với má con để má con được vui Thầy nha :
“Bảy mươi tuổi rồi mẹ có biết
Chuối chín trên buồng gió thoảng từng cơn
Nắng mưa, ấm lạnh , lòng con sợ
Thời gian có chờ cho con đền ơn ?”
Thầy ơi ! Thầy có biết không ? Có những đêm con nằm mơ thấy con và chị Hai chuẩn bị để đi thăm Thầy , nhưng sữa soạn xong rồi , sắp được gặp Thầy bỗng dưng giật mình thức giấc . Vậy là không được gặp Thầy làm con tiếc ngẩn tiếc ngơ , tức gì đâu ! Nhưng biết bắt đền ai đây, mấy lần như vậy rồi đó, thật là tiếc Thầy nhỉ? Chắc Thầy đang cười con đó phải không ? Chuyện trong mơ mà cũng …
Khi thư này đến tay Thầy, chắc lễ Vu Lan đã qua rồi . Dù vậy con cũng xin kính chúc Thầy một mùa Vu Lan hạnh phúc và an lạc . con xin tặng Thầy một đoá hồng thắm như tình cảm của Thầy trò mình và con cũng kính dâng lên Thầy một đoá hồng trắng để “tưởng rằng mẹ vẫn bên ta , mẹ vẫn thương ta” .
Danmark, ngày 05 tháng 08 năm 2000
Phật tử Thường Duyên

Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2008

VĂN KHẤN NGUYỆN-AN VỊ NGỌC XÁ LỢI




Các con thương yêu !


Khi còn nhỏ Thầy đã có tính quan sát, đối chiếu, so sánh, bởi vậy khi đi xuất gia rồi, tính đó còn lớn mạnh hơn. Đi đây đi đó nhìn các ngôi giáo đường của tôn giáo bạn, cao chất ngất, kiến trúc nguy nga đồ sộ, theo phong cách kiểu dáng của phương tây, nằm giữa phố thị đông đúc cư dân. Còn các ngôi chùa Phật giáo, nằm khuất sâu trong núi, nếu ở thành phố thì nằm sâu trong hẻm, xây cất tạm bợ, diện tích sinh hoạt rất hẹp,eo sèo. Nói lên cái nghèo cái thân phận của kẻ luôn bị bỏ rơi. Mặc dù trong lịch sử quá khứ, Phật giáo đã có những thế kỷ vàng son đóng góp rất lớn cho nền văn minh, văn hoá Việt. Chính từ ý niệm đó Thầy ao ước và ôm ấp một hoài bão : Rằng sau này mình sẽ cố gắng tu tập, đem cả thân tâm sức lực mình để xây dựng một ngôi Tam Bảo (dễ hiểu là ngôi chùa), thật to lớn, tiêu biểu cho kiến trúc đặc thù của đạo Phật, để đền đáp thâm ân của chư Phật, Thầy Tổ. Ngôi chùa đó phải cao, phải lớn rộng, khi vô tới đầu làng đã thấy ngôi tháp cao, có mái ngói đỏ in trên nền trời xanh có mây trắng bảng lảng chập chờn trên mái tháp. Buổi chiều có tiếng đại hồng chung, buông từng chuỗi âm thanh trầm hùng nhắc nhở, thức tỉnh những ai còn chấp chới lặn hụp trong cõi ảo mộng, mơ màng. Thầy không thích những áng văn chương cổ ca ngợi ngôi chùa lẩn khuất trong hóc núi, mái ngói rêu phong, khiêm tốn ẩn mình trong luỹ tre xanh, bốn mùa tịch mịch, có sư già ngày ngày cầm chổi quét lá đa. Thầy muốn đạo Phật phải nhập thế, phải hoà quang đồng trần, có nghĩa là phải lăn xả vào thế gian lắm bụi trần này để đem tuệ giác của đạo Phật chiếu dọi vào mọi lãnh vực của đời sống, chia xẻ những vấn nạn lớn của xã hội, của thời đại, nhiều vấn đề nan giải hôm nay. Nguyện ước của thầy đã được Chư Phật, chư Thiên ,và quần chúng Phật tử xa gần hộ niệm, giúp đỡ, tháp báu ba tầng để tôn thờ Xá Lợi Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni đã xong, đã có nơi an trí phụng thờ Xá Lợi Ngài mà không có giá trị vật chất nào ở thế gian có thể đem so sánh.
Nơi đây xin tâm thành cảm tạ Ni Sư Như Hoa, trụ trì Chùa Vĩnh Phước, thành phố Hồ Chí Minh, đã phát tâm cúng dường Xá Lợi Đức Phật, cho chùa Bửu Minh Gia Lai phụng thờ, một báu vật vô giá mà Ni Sư đủ duyên phước thỉnh được từ các vị cao tăng nước ngoài .
Bài văn khấn nguyện này được viết để khấn nguyện trong ngày lễ an vị Ngọc Xá Lợi tại chùa Bửu Minh , dưới sự chứng minh của Đại lão Hoà thượng Thích Phước Thành ( thường gọi là HT Thiên Phước ), Hoà Thượng Thích Thiện Nhơn, cùng các Chư Tôn Đức Tăng Ni của ba tỉnh Bình Định, Gia Lai, Kon Tum.
Thích Giác Tâm
( Trụ Trì Chùa Bửu Minh )


NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

LỜI KHẤN NGUYỆN


Đức Phật giáng thế chúng con còn ở trong cõi hỗn mang tăm tối nào đó,Khi được làm thân người thì Ngài đã diệt độ.Ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp chúng con chỉ hình dung được qua trang Sử, trọn kiếp luân hồi chúng con không hề dám nghĩ tưởng rằng một lúc nào đó trong đời chúng con lại được chiêm bái đảnh lễ phần tinh túy nhất của thân thể Ngài, mà chúng con thường gọi là Ngọc Xá Lợi .Phước mỏng ,Nghiệp dày, dòng Nghiệp dã đưa đẩy chúng con lao vào Vô Minh tội lỗi, tưởng không thể nào còn nhìn được tận tường gương mặt đẹp như vầng nguyệt của Đức Như Lai. Vậy mà nhân duyên phước đức nào còn sót lại lần đầu tiên trong đời lại được chiêm ngưỡng lễ bái Xá Lợi của Đức Thế Tôn .Ngay giây phút thiêng liêng này

chúng con đem năm vóc sát đất cung kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, ngưỡng mong Đức Thế Tôn thương xót gia hộ cho chúng con, xa rời biển khổ lầm mê

tinh tấn tu hành, tâm Bồ Đề mỗi ngày mỗi lớn, có được an lạc và chia xẻ niềm an lạc của Chánh Pháp đến với mọi người, mọi loài chúng sanh.

Tháp báu ba tầng chúng con xây dựng lên là để tôn thờ Đức Thế Tôn, để nói lên tấm lòng chí thành chí kính của chúng con đối với Ngài,

ngay giờ phút thiêng liêng này, trái đất một lần nữa hân hoan chuyển động,muôn loài đang hướng về Kim Thân-Xá Lợi Ngài kính ngưỡng Quy Y.

Chúng con đem tất cả thân tâm thanh tịnh hướng về Ngài mà nương tựa, nguyện trọn đời theo Đức Thế Tôn mà tu tập, không một điều ngăn trở nào để Tâm Bồ Đề của chúng con lui sụt . Xin Đức Thế Tôn chứng minh cho lời phát nguyện của chúng con .


Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát, Tác Đại Chứng Minh .

Thứ Năm, 17 tháng 7, 2008

PHỎNG VẤN TRINH CÔNG SƠN


"PHẢI BIẾT SỐNG HẾT MÌNH TRONG
MỖI SÁT NA CỦA HIỆN TẠI"

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn



LÀ NGHỆ SĨ VÀ LÀ MỘT PHẬT TỬ, TRỊNH CÔNG SƠN CÓ CÁCH CẢM NHẬN VỀ PHẬT GIÁO CỦA RIÊNG MÌNH. THEO CÁCH CẢM NHẬN ĐÓ, TRIẾT LÝ ĐẠO PHẬT ĐÃ ĐI VÀO THẾ GIỚI THANH ÂM VÀ LÀM NÊN MỘT TRONG NHỮNG NÉT RIÊNG CỦA "DÒNG NHẠC TRỊNH". NHỚ VỀ ANH, NGUYỆT SAN GIÁC NGỘ SỐ THÁNG 04 - 2001 XIN TRÍCH LẠI NHỮNG CẢM TƯỞNG ĐỐI VỚI ĐẠO PHẬT MÀ ANH ĐÃ TỪNG PHÁT BIỂU.


* Tôi là một Phật tử ở trong một gia đình có tôn giáo chính là Phật giáo. Từ những ngày còn trẻ, tôi đã học kinh và thuộc kinh Phật. Thuở bé tôi hay đến chùa vì thích sự yên tĩnh. Có những năm tháng nằm bệnh, đêm nào mẹ tôi cũng nhờ một thầy đến nhà tụng kinh cầu an và tôi thường đi vào giấc ngủ êm đềm giữa những câu kinh đó. Có thể vì một tuổi trẻ đã có cơ duyên đi qua những cổng nhà Phật nên trong vô thức, bên cạnh những di sản văn hóa Đông Tây góp nhặt được, còn có lời kinh kệ vô tình năm ở đấy.
* Không hiểu sao, những năm gần đây, tôi thường nghĩ về Phật giáo như một tôn giáo mang nhiều tính hiện sinh nhất. Bắt đầu bằng chữ sát na, một đơn vị thời gian siêu nhỏ. Phải biết sống hết mình trong mỗi sát na của thực tại. Từ mỗi cái ăn, cái uống, cái đi đứng nằm ngồi. Không làm công việc này mà nghĩ đến công việc khác. Với tôi, đó cũng là Thiền, là một cách sống đích thực. Tôi vẫn tiếp tục thực tập cách sống như thế hàng ngày.
Tôi đang cố gắng quên Phật giáo như một tôn giáo. Tôi muốn đó là một thứ triết học siêu thoát mà ai cũng cần phải học, ngay cả những người thuộc tôn giáo khác. Mỗi người phải nỗ lực để xây dựng cho bằng được một ngôi chùa tĩnh lặng trong lòng mình và nuôi lớn Phật tính trong chính bản thân thành một tượng đài vững chắc. Nó sẽ giúp ta nhìn thế giới khác đi, nhìn cuộc sống khác đi.
* Với tôi, Phật giáo là một triết học làm cho ta yêu đời hơn chứ không phải làm cho ta lãng quên cuộc sống.
* ... Tôi không quan niệm tìm đến với Phật mà là trở về với Phật tính trong cõi riêng mình. Đó là quê hương, là chiếc ngai Phật. Tôi ngồi, Phật sẽ tràn ngập tôi và tôi sẽ tràn ngập Phật. Như một cơn lũ dũng mãnh đầy phù sa, mang theo trong nó những gì có thể nuôi dưỡng được cho một cõi "Ngộ" ra đời. "Thấy" và "Biết" và từ đó làm nảy sinh một nụ cười tủm tỉm, một thoáng cười hàm tiếu mà La Joconde của Léonard de Vinci mới có thể trong muôn một so sánh được.
* Cuối năm 1995, tôi có viết được một bài hát mà tôi rất thích và bạn bè ai cũng thích. Đó là bài "Sóng về đâu". Bài này lấy cảm hứng từ câu kệ: "Gaté Gaté. Paragaté. Parasamgaté. Bodhi svaha".
* Tôi đang đi tìm một cách biểu hiện mới. Muốn vậy, khi sáng tác, tôi phải lãng quên hiện hữu này để đi vào một thực tại, một thực tại phiêu bồng, ở đó không có những xung đột trần tục của chữ nghĩa và những lý luận ngõ cụt không đâu.
Tôi đang tập hành Thiền về sự lãng quên. Lãng quên những gì không cần thiết cho đời và cho chính bản thân mình.


Khải Thiên phỏng vấn


Thứ Tư, 16 tháng 7, 2008

tờ bạc đông dương




Theo luật vô thường của nhà Phật, cõi này là cõi tạm, mọi hiện tượng đều luôn biến dịch đổi dời. Tất cả rồi đều chỉ là kỷ niệm, mà kỷ niệm thường là hoàng kim, là đẹp. Một kỷ vật , một bài thơ, một đồng bạc cũ, một chiếc lá khô ép trong vở học… đôi khi kéo ta về với ký ức xa xăm. Nơi có phần mộ ông bà cha mẹ, nơi có cây đa bến nước, con đò, nơi có người bạn hồi còn để chỏm…Dạo một vòng blog phật giáo, bắt gặp blog lưu giữ những đồng bạc cũ thời thuộc Pháp, nhớ lại tuổi thơ của mình, ngày xưa còn nhỏ tính hay lục lạo tìm trong ngăn tủ mẹ có tờ bạc gánh dừa, mà các cụ hồi đó gọi tờ bạc gánh dưa. Xin mẹ cho được và mẹ thì có tiếc gì, mẹ cho con tất cả cuộc đời mẹ, hy sinh tất cả cho đàn con. Có được thân này để hiện hữu khổ vui trong cuộc đời, để đi tu, làm chút đỉnh việc Phật , cũng từ nơi mẹ mà có. Cảm ơn tờ bạc năm xưa vẫn còn loà xoà trong nỗi nhớ, cảm ơn người đã sưu tầm góp nhặt các tờ bạc đông dương thuộc Pháp, cảm ơn đời đã tặng một niềm vui. Xin được đưa những tờ bạc xa xưa vào blog chùa Bửu Minh để làm quà cho thân hữu xa gần. Các hoa văn hoạ tiết trong tờ bạc cũ có khi cần cho công việc trang trí chùa chiền, làm đẹp cho cuộc đời qua bàn tay khối óc con tim của những nghệ nhân - Thâm tạ - Giác Tâm .
Tiền giấy cũ xứ Đông Dương
Lang thang trên mạng tình cờ bắt gặp đồ quý, ảnh của một bộ tiền giấy cũ phần lớn do Banque de L'Indo Chine phát hành, thấy khá lạ nên đem về cho pà con xem cho biết. Bài này do blogger Phạm Minh Phúc (ns: 20/01/1983), một du học sinh tại Pháp sưu tầm từ nhiều nguồn.
Chủ yếu được chụp lại qua ống kính của 04 nhà nhiếp ảnh (1) bác sĩ Hocquard người đã đến Đông Dương từ 1884-1885, (2) ông Louis Anducci chụp năm 1949, (3) ông André Frassati chụp năm 1955-1956 và ông Pierre Dieulefils. Những tấm ảnh này được lưu trữ tại nhiều nơi ở Pháp như trong mỗi Cục, Bộ của chính quyền, Thư viện quốc gia, Sở Địa dư Paris và Trung tâm dữ liệu thuộc địa ở số 6, Gaston de Saporta, 13100 Aix-en Provence, France.
Đây là một tư liệu khá hấp dẫn cho những người thích tìm hiểu về lịch sử xưa gồm 47 tấm hình rất rõ nét, tiếc là Phúc không có được phần chú thích chi tiết cho từng đồng tiền một (năm phát hành, phạm vi lưu hành, năm chấm dứt phát hành, loại giấy, kỹ thuật in...)
3..2..1... and showtime (Source: http://www.ngoisao.net/)
Tags: tờ bạc đông dương

Thứ Ba, 15 tháng 7, 2008

BÀI THƠ MÙA HẠ

Đinh Hoành Sơn còn có bút danh Đinh Vũ, gốc người Huế , sống cùng với vợ con tại Pleiku - Gia Lai nhiều năm, hiện định cư tại Hoa Kỳ. Anh là một con người tài hoa, tâm đạo nhiệt thành, về già mắc bệnh mất trí nhớ. Thời còn trí nhớ anh có tặng tôi một số bài thơ, trong số đó tôi thích nhất là bài “ BÀI THƠ MÙA HẠ” tôi ngâm đi ngâm lại và lưu được trong bộ nhớ của mình, còn một số bài khác bỏ thất lạc đâu đó. Thơ anh như con người của anh: Tứ thơ thì sâu xa uyên áo, lời thì thơ mộng, từ dùng cách tân khám phá rất lạ. Nghĩ vậy nên lưu lại bài thơ này ở trang nhật ký cá nhân mình, để người thân con cháu anh có dịp đọc lại chất văn thơ của cha ông mình như vậy, và thơ văn hay của người nay,sẽ đóng góp thêm cho nền văn học Việt Nam đương đại .Anh đã già và bệnh tật, cái ngày anh ra đi vào cõi khác cũng không xa lắm. Coi bài thơ này như di cảo của anh, đăng lên đây để kỷ niệm một tình bạn vong niên.
BÀI THƠ MÙA HẠ
Thương kính tặng thầy Giác Tâm
Băng Tâm !
Em là ai hỡi Băng Tâm ?
Mắt môi tay thả bềnh bồng mây trôi
Em làm men rắc trắng chiếu ngồi
Mỗi đơn tử nở một đồi bông lau
Gương trong ánh hiện sắc màu
Vết chân hưng phế vết đau tím bầm
Con đường đời mở cong cong
Xoáy cơn lốc lớn lửa lòng thầm reo
Thị thành một sớm phai eo
Tóc xanh giũ lại cho bèo trôi sông
Băng Tâm !
Bây giờ mở cánh cửa Không
Trái tim đương xứ còn rung chuyển hoài
Ô hay mình vẫn rong chơi
Mình mây mưa với mọi người mây mưa
Nhớ em chút nhớ không ngờ
Hốt nhiên hàng phượng cũng vừa nở hoa.

Hoa Kỳ ngày…tháng… năm 1986
Đinh Hoành Sơn

Thứ Sáu, 11 tháng 7, 2008

VU LAN MÙA BÁO HIẾU

HẠC TRẮNG XA KHƠI


Mẹ thương! Mười hôm rồi con nhịn ăn, chỉ uống nước trong thôi. Con của mẹ bệnh nhiều quá, nên thỉnh thoảng cứ phải nhịn ăn để trị bệnh. Tháng này ở xứ mình là mùa mưa dầm, bầu trờ luôn âm u xám đục. Mấy hôm rày lại có áp thấp nhiệt đới nữa, trời thật lạnh như mùa đông. Khi nhịn ăn năng lượng trong người tiêu hao nhiều, nên con cảm thấy rất lạnh. Vừa đói vừa lạnh bỗng dưng con nhớ đến mẹ, đang nằm trên đồi cao lộng gió một mình. Và cã những cô hồn đang lang thang thất thểu, đói lạnh trong cỏi âm không người đơm quảy:
Trời xâm xẩm mưa gào gió thét
Khí âm huyền mờ mịt trước sau
Ngàn cây nội cỏ rầu rầu
Nào đâu điếu tế nào đau chưng thường
(văn tế thập loại chúng sanh – Nguyễn Du) .
Mẹ ơi! Cách đây hai mươi năm, con có ghi trong nhật ký, phát thảo đôi nét về mẹ. Hôm nay con xin đọc lại cho mẹ nghe:” Mẹ hiểu rất lơ mơ về giáo lý nhà Phật, không có ý niệm chân xác về thuyết nghiệp báo, luân hồi gì hết . Vậy mà mẹ phát nguyện ăn chay một tháng được mười ngày, gần ba mươi năm rồi mẹ vẩn một lòng kiên trinh thệ nguyện – thuỷ chung như nhất. An chay không khó lắm, là đối với những ai mang một hoài bão to lớn, chí nguyện kiên cường, hoặc đối với những phật tử gia tư thường thường bậc trung trở lên. Trên mâm ăn lúc nào cũng có phù chúc, nấm rơm, tàu hủ, cà rốt, khoai tây… Còn mẹ mười ngày chay trong tháng, ít khi nào được tô canh,hay dĩa xào; muối đậu đối với mẹ đã là sang. Nhiều hôm về thăm nhà nhằm ngày chay của mẹ, thấy mẹ ăn cơm với muối trắng (dẫu hôm đó người con rể có câu được cá và kho nấu ngon cách mấy đi nữa ,mẹ cũng chẳng hề … ). Con đã rưng rưng nước mắt khi nhìn tuổi già của mẹ.Vừa phục vừa thương biết mấy tấm lòng trước sau như một đó” .
Qua đám tang của mẹ, con mới cảm nhận sâu sắc về bốn ân, (ân tổ quốc, ân chư phật thầy tổ âncha mẹ, ân chúng sanh) và nhất là ân chúng sanh, mà ngày xưa chỉ học trên kinh điển, con có khái niệm rất hời hợt nông cạn. Khi mẹ trút hơi thở cuối cùng, bà con phật tủ xa gần đến kinh kệ hộ niệm, cầu nguyện cho mẹ liên tục ngày đêm. Và đây cũng là lần đầu tiên con làm thầy địa lý, con đã chọn âm phần cho mẹ. Con chọn cho mẹ nơi an nghỉ nghìn đời, trên một đồi cao lộng gió và cũng rất nhiều mây. Đầu mẹ quay về núi,chân xuôi về làng. Con thật không ngờ vị trí con chấm huyệt, phía dưới là tảng dá xanh cực kỳ to lớn. Anh em phật tử phải dùng đến xà beng, mũi ve, búa tạ để chẻ đá Mẹ có thấy con là một ông thầy địa lý vụng không ?
Mẹ mất vì chứng cao huyết áp,đưa đến tai biến mạch máu não,mẹ đã hôn mê và nằm tại chỗ rất nhiều ngày.Thường nhật mẹ hay than thở đau đầu.Con nghĩ đơn giản, tuổi già ai cũng thế, đau đầu nhức mỏi là chuyện thường. Chúng con cũng không nghĩ rằng, mẹ lại mắc bệnh huyết áp ,vì mẹ quá gầy. Bởi vậy nên không quan tâm đưa mẹ đi bác sĩ để thăm dò huyết áp. Và cũng không ngăn mẹ có thói quen thích ăn mặn. Con còn nhớ một hôm về thăm nhà em hạnh còn phàn nàn với con:
_ Mẹ mình thật kỳ cục ! Lâu lâu em mua được chút thịt, miếng cá ,mẹ nấu nêm nếm quá chừng mặn ăn chẳng ngon lành gì hết.
Con đã xẵng giọng với mẹ:
_ Mẹ thật vụng về trong chuyện bếp núc, hèn chi mấy chị em gái của con không ai nấu nướng ra gì hết .
Mẹ đã nhỏ nhẹ nói rằng:
_Mẹ biết nêm mặn ăn không ngon, nhưng mà ăn được nhiều bữa.
Hôm đó nghe mẹ trả lời như thế, con hối hận ngẹn ngào, nước mắt cứ chực trào ra. Qua mẹ con mới thấm thía được câu ca dao: “ Tay bưng đĩa muối chấm gừng, gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau”. Và cũng hiểu thêm được vì sao mẹ chọn nhà người con gái út rất nghèo để ở. Mà hình như những bà mẹ quê nghèo khổ ở Việt Nam mình đều như thế cã: dè sẻn, tiết kiệm từng chút, cho đến ngày nhắm mắt. Ít có bà mẹ quê nào ăn mặc đẹp hết, quần áo chàm vá như một chiếc y bá nạp của các vị sư tu hậnh đầu đà. Có được bộ đồ mới nào cũng không dám mặc. Cứ để dành, để dành mãi đến phút lâm chung con cái phải đem ra tẩm liệm. Mẹ của con cũng như vậy đó mẹ ơi !
Hôm mẹ vừa bỏ chúng con, riêng con vì bận bịu nhiều việc để lo đám cho mẹ. Với lại bữa đó bè bạn thân hữu, phật tử xa gần, đến phúng điếu chia buồn ấm cúng nghĩa tình, nên con cũng an ủi được phần nào, không buồn nhiều .Nhưng vài ngày sau , một hôm đang lúc thắp nhang cho mẹ, bất chợt nhìn lên bàn thờ, thấy tấm trướng các em phật tử đi phúng điếu mẹ, có bài thơ nho :
Bà về nơi tịnh lạc
Thầy con hoá mồ côi
Mùa xuân buồn man mác
Hạc trắng vừa xa khơi.
Bốn câu thơ của các em phật tử gợi cho con một nổi buồn thê thiết. Con thấy con mồ côi . Con tháy rằm tháng bảy này trên ngực con, các em phật tử sẽ cài cho một bông hồng trắng, thay vì một bông hồng đỏ thắm như năm ngoái. Thật bất hạnh thay cho những ai không còn có mẹ !
Sư phụ con cũng vừa mất mẹ, thầy cứng rắn là vậy thế mà nước mắt cứ chảy trong những ngày tuần thất. Mẹ không còn nữa con rở thành côi cút bơ vơ, trong lòng cứ luôn thấy trống vắng. Mẹ ơi ! Không hiểu vì sao thời gian gần đây các phật tử hay đem cho con bánh kẹo. Mỗi lần có bánh kẹo là con nhớ đến mẹ, nhưng mẹ đã không còn. Tuổi già của mẹ rất thèm ngọt , nhưng chúng con không nhớ nhiều đến điều đo . Thương chúng con mẹ hãy tha thứ những lỗi lầm vụng dại. Chúng con có đứa đã gần nữa đời nguời rồi, nhưng không phải là đã trưởng thành về mặt hiếu đạo:
Gần nữa đời người con mới hiểu
Thế nào thân phận trẻ mồ côi
Tình đạo bạn dành cho con không thiếu
Nhưng mẹ ơi con vừa mất bầu trời.
Thưa mẹ! Hôm đó con có dự định nhân ngày tuần chung thất của mẹ, sẽ mời chư tôn đức thiết lập trai đàn kỳ siêu bạt độ. Trước là cầu nguyện cho đồng bào cùng các chiến sĩ dẫ bỏ mình vì nước. Và những người vì nghiệp lực sâu dày chết oan, tâm thức không nơi nương tựa. Không có cơ hội tái sih, trở thành cô hồn đang lang thang thất thểu nơi đầu ghềnh cuối bãi, đói lạnh cơ hàn.
Sau nũa là mẹ, con rất sợ mẹ đoạ lạc vào cảnh khổ. Vì trước khi mẹ mất, mẹ luôn hôn mê bất tỉnh. Nhưng mẹ ơi , đến giờ phút chót con đẫ không thực hiện được ước nguyện đo, vì thiếu nhân duyên .Tuy vấyuốt trong thời gian bốn mươi chín ngày ,con và các em phật tử đã luôn trì tụng kinh Địa Tạng, để cầu nguyện cho những sinh linh trong cỏi âm và mẹ. Chúng con nguyện cầu cho mẹ và tất cả chúng sinh, đang trầm luân trong cảnh giới khổ đau, đều được an lạc giải thoát. Ngày tuần bốn mươi chín của mẹ, một số phật tử thay con thiết tiệc chay cúng dường chư tôn Thượng toa , Đại đức, Tăng ni.
Cảm kích trước tấm lòng của chư tôn đức và các phật tử đã quan lâm hộ niệm, con quỳ thưa tác bạch, con xin thuật lại cho mẹ nghe :
Kính bạch chư tôn đức…
Hôm nay là ngày cúng chung thất cho thân mẫu của con. Chư tôn đức cùng quý phật tử xa gần đã thương tưởng con. Đức phật dạy rằng: Với nguyện lực của những bậc tu hành chơn chánh, sự chú nguyện của chư vị sẽ đem lại lợi l;ạc vô cùng cho kẻ còn người mất. Y cứ vào lời Phật dạy, con tin chắc rằng giờ đây thân mẫu của con đã thác sanh vào cảnh giới an lành. Ngày mẹ con vừa từ trần, con đã đến các chùa rong tỉnh cung thỉnh chư tăng đến hộ niệm cho mẹ. Nhưng đến chùa nào các thầy cũng đi vắng hết ( hôm đó các thầy đi cúng tiểu tường cho Hoà Thượng Đức Thiệu ở Đà lạt). Lòng con hoang mang xao xuyến lạ! Nghĩ rằng một đời ăn hiền ở lành như mẹ, hơn nữa có một người con trai duy nhất, mẹ cũng gởi cho ở chùa để gánh vác việc phật. Với nhân lành đó há lẻ ngày mẹ ra đi vĩnh viễn , không có chư tăng đến nguyện cầu cho mẹ sao? Như vậythì còn đâu là nhân quả? Làm sao thuyết phục được người khác tin yêu theo đạo Phật ! Ngay lúc bấy giờ con mới thấy vai trò của chư tăng là quan trọng trong cuộc sống này. Sanh và tử là hai việc hệ trọng nhất của kiếp người, mà họ là những ngươiừ luôn thao thức với vấn đề này và lập tâm tìm cách thoát ra. Tự thân họ và khuyến hoá người khác , luôn luôn bảo vệ mạng sống cả mọi loài (sanh) và trong đau đớn cùng cực của kiếp ngưiơì là cái chết (tử) họ luôn có mặt để chia buồn và ngyện cầu siêu độ . Trong cỏi sống và chết, chỉ cần có hình ảnh từ hoà thấp thoáng của chiếc y vàng, là ta an tâm biết nhường nào.
Con cứ tưởng mẹ thiếu dyên, bạc phước, không có chư tăng hướng dẩn hương linh. Nhưng mầu nhiệm thay Phật Pháp ! giò phút sắp sửa di quan cho mẹ con, một vài thầy từ Đà Lạt đã về kip., có cả quý thầy từ Bình Định lên thăm đã có mặtto ng lúc tiễn đưa linh cữu mẹ. Thế là mẹ con đã về noi cỏi vĩnh hằng trong tiếng niệm Phật của chư Tăng với sắc áo vàng thanh khiết. Và bàcon đạo hữu, Gia Đình Phật Tử nữa tong chiếc áo màu lam hiền hoà, chan chứa nghĩa tình đạo vị.
Con xin đê đầu đảnh lẽ đáp tạ thâm ân cả chư tôn đức cùng bà con Phật tử xa gần.
Mẹ ơi ! những mùa Vu Lan trước con đều co một chúc quà cho mẹ , riêng lễ Vu Lan năm nay bức thư này sẽ là món quà mọn dâng đến me. Mong mẹ chứng tri cho lòng con.


Mùa Vu Lan PL 2538



Thích Giác Tâm